Vizekusen 2002 – Vết thương không lành

bởi Minh Hiếu ·

Người Đức gọi họ là Vizekusen*, người Anh gọi họ là Neverkusen, một cách mỉa mai. Nhưng cũng chính họ là những kẻ xuất sắc nhất, đóng góp tới 7/11 cầu thủ trong đội hình tiêu biểu của đội bóng có lịch sử dài cả trăm năm. Và cũng chính họ trải qua nỗi đau đứng nhìn chiếc cúp từ khoảng cách một gang tay mà không được chạm vào nó không phải một mà tới ba lần liền. Đúng vậy, chúng ta đang nhắc tới Bayer Leverkusen của năm 2002.

team of the decade

Đội hình Tiêu biểu trong cả lịch sử Bayer Leverkusen được bầu chọn vào năm 2004, nhân dịp kỷ niệm lễ bách niên của CLB

Bàn cờ của Toppmoeller

leverkusen formation


Credits @ zonalmarking.net

Bayer Leverkusen ở thời điểm ấy không được giới chuyên môn đánh giá cao, nhưng cách vận hành chiến thuật của huấn luyện viên Klaus Toppmoeller đã tạo nên Bayer Leverkusen mạnh nhất trong lịch sử đội bóng.

Đầu tiên hãy nói tới cầu thủ quan trọng nhất trong sơ đồ chiến thuật của Toppi: Carsten Ramelow – đội phó, cao 1m86, nặng 82kg, một tảng đá ngay trước hàng hậu vệ. Ramelow chơi trong vai trò của một anchor man, thường xuyên lùi sâu ngang hàng các trung vệ, tạo ra một hàng ngang ba người, giúp bộ đôi hậu vệ cánh Placente và Sebescen được phép dâng cao và áp đảo đối thủ ở hai cánh.

Ramelow

Chơi bên cạnh Ramelow là cặp trung vệ Lucio và Jens Nowotny. Lucio cao lớn và tì đè tốt, thường xuyên giành thắng lợi trong các cuộc đấu tay đôi, trong khi Nowotny lại chơi đầu óc hơn và có khả năng chỉ huy toàn bộ hàng phòng ngự. Đáng tiếc, sau đó Nowotny dính chấn thương nghỉ hết mùa**, và đây cũng là một nguyên nhân dẫn tới thất bại của Leverkusen.

Ở hai bên cánh, Bayer Leverkusen sở hữu hai “người Brazil”: Tuyển thủ quốc gia Brazil, Zé Roberto bên cánh trái với kỹ thuật cá nhân điêu luyện và “người Brazil da trắng” Bernd Schneider ở cánh phải, có tốc độ và khả năng tạt bóng tốt. Cả hai đều không phải là những mẫu cầu thủ giỏi dứt điểm nên họ có vai trò kết hợp với các hậu vệ cánh để hỗ trợ những người ở bên trong.

Bayer Leverkusen v VFL Wolfsburg

Trên hàng tiền đạo, Toppmoeller chỉ cắm một mình Oliver Neuville. Rõ ràng chiều cao khiêm tốn 170cm của anh không hề lý tưởng cho một số 9 cổ điển. Những điều Neuville làm trên sân là lùi sâu, quấy rối và kéo các hậu vệ đối phưởng ra khỏi vị trí, tạo khoảng trống cho Michael Ballack – một tiền vệ với sức công phá khủng khiếp – xâm nhập vòng cấm ghi bàn. Tiền vệ mang áo số 13 đã góp công lớn với 23 lần ghi tên mình trên bảng điện tử sau 50 trận.

Đá cặp với Michael Ballack là Yildiray Basturk, cầu thủ  không mạnh về thể hình, thể lực nhưng lại có nhãn quan chiến thuật rất tốt. Tiền vệ người Thổ Nhĩ Kỳ chơi lùi sâu hơn, đảm nhiệm vai trò của một playmaker. Chỉ vài tuần sau khi kết thúc mùa giải đó, Basturk trở thành holding midfielder của ĐTQG Thổ Nhĩ Kỳ tại World Cup 2002 và giữ vị trí của mình cho tới năm 2008, khi có những bất đồng với HLV Fatih Terim.

Bayer attacker

Mỗi khi đội nhà gặp bế tắc, cần bàn thắng, Toppi luôn có những kế hoạch B trong tay: huyền thoại CLB, Ulf Kirsten – ghi 13 bàn tại Bundesliga; tiền đạo trẻ Dimitar Berbatov – người ghi sáu bàn trong sáu trận tại DFB-Pokal Cup; hay cả … thủ thành Hans–Jorg Butt với ba quả penalty thành bàn.

Nhìn vào Bayer Leverkusen mùa giải 01/02, chúng ta có thể nhận ra những đặc điểm chiến thuật xuất hiện ở hầu hết các đội bóng sau đó: Một Anchor Man thích lùi sâu xuống ngang các trung vệ, các hậu vệ cánh chăm chỉ tấn công (attacking fullback), số 9 ảo (Oliver Neuville) và tiền đạo ảo (Michael Ballack). Rõ ràng, Bayer Leverkusen thời kỳ này đã có ảnh hưởng chiến thuật không nhỏ tới bóng đá châu Âu.

Từ đó, Michael Cox đã đánh giá đội bóng của Klaus Toppmoeller là “Đội hình của thập kỷ”.

Bayer Squad

Tan mộng ăn ba

Mùa giải 2001/2002 được xem là mùa giải thành công nhất trong lịch sử Bayer Leverkusen, cho tới ngày 21/4/2002.

Ở Bundesliga, Bayer Leverkusen hoàn thành 31 trận đấu, đứng đầu bảng với 5 điểm nhiều hơn đội đứng nhì Borussia Dortmund. Chỉ cần thắng thêm hai trận nữa, họ sẽ lần đầu tiên trong lịch sử nâng cao chiếc Đĩa bạc danh giá. Ở DFB-Pokal Cup, họ đã giải quyết xong Cologne sau 120 phút của hiệp phụ và sẽ đối đầu với Schalke 04 ở trận chung kết. Tại Champions League, Bayer Leverkusen cùng Super Depor hất cẳng Juventus và Arsenal khỏi vòng bảng thứ hai, đả bại Liverpool tại tứ kết trước khi chạm trán một đội bóng Anh khác là Manchester United ở bán kết. Tất cả đều đã mơ về một cú ăn ba.

Quyết tâm giành chiến thắng chưa bao giờ cao đến thế ở Leverkusen.

– Rudi Voeller

Tuy nhiên, giống như những điều mà Borussia Dortmund đang phải trải qua, Bayer Leverkusen không có băng ghế dự bị đủ dài để căng sức chiến đấu cả ba mặt trận. Và thảm họa bắt đầu từ đây, ngày định mệnh 21/4/2002.

Ngày hôm đó, ở vòng đấu thứ 32 của Bundesliga, Bayer để thua 1-2 ngay trên sân nhà trước Werder Bremen – đội bóng đang chiến đấu cho tấm vé dự vòng play-off UEFA Cup. Khoảng cách bị rút ngắn còn 2 điểm. Một vài người bắt đầu bi quan về khả năng giành Đĩa bạc. Nhưng Toppmoeller chưa thấy điều đó đáng để lo ngại:

Sẽ không có Unterhaching thứ hai***. Lo sợ không nằm trong từ điển của chúng tôi. Chúng tôi tự tin vào chính mình và sẽ không trượt ngã. Cách biệt hai điểm là đủ để lên ngôi vô địch.

Ở Champions League, mọi chuyện trở nên sáng sủa hơn khi Leverkusen giành được trận hòa 2-2 ngay trên sân Old Trafford, có lợi thế lớn trước trận lượt về. Tại Bay Arena, bàn gỡ hòa 1-1 ở phút 45+2 của Oliver Neuville đã đưa đội bóng nước Đức đến với Hampden Park, đứng trước cơ hội vô địch Champions League. Toppi dĩ nhiên vô cùng sung sướng:

Giấc mơ đã trở thành hiện thực. Đây là lúc dành cho rượu và thuốc lá…

Bayer winning UCL

Nhưng sẽ chẳng có rượu hay thuốc lá nào giúp cho Giám đốc điều hành Reiner Calmund được thoải mái như vậy, bởi chỉ ít ngày trước trận bán kết lượt về Champions League, đội bóng của ông thất thủ 0-1 trước Nuremberg, để Dortmund vượt lên và nắm lấy quyền tự quyết trong cuộc đua giành chiếc Đĩa bạc.

Khi bạn đã chơi tốt như thế trong cả mùa giải, điều này thực sự, thực sự đau đớn.

– Reiner Calmund nói với giọng nghẹn ngào.

Reiner Calmund

Ngày 4/5/2002, tại vòng đấu thứ 34 của Bundesliga, Leverkusen vừa đá vừa mong chờ Werder Bremen đánh bại Dortmund. Họ đã làm tốt phần việc của mình, đánh bại Hertha Berlin bằng cú đúp của Michael Ballack. Nhưng như vậy là không đủ, khi Dortmund lội ngước dòng, thắng 2-1 và vô địch Bundesliga. Toppmoeller và các học trò cùng nhau khóc trên phòng thay đồ, trong khi Reiner – người cùng Bayer lần thứ tư về nhì trong 6 mùa – che mắt và đổ lệ ngay trên mặt cỏ Bay Arena.

Một tuần sau, Bayer Leverkusen hành quân tới Berlin để chạm trán Schalke 04 trong trận chung kết DFB-Pokal Cup. Họ có khởi đầu thuận lợi với bàn thắng của của Berbatov ở phút 27, nhưng sau đó bị gỡ hòa ở cuối hiệp một, trước khi đổ sụp trong 45 phút hiệp hai, để thua 2-4 và tuột thêm một danh hiệu khỏi tay. Và Uli Hoeness có quyền được vênh mặt nhờ lời phát biểu từ hai năm trước:

Bayer sẽ chẳng bao giờ giành được bất cứ cái gì cả. Ở những trận cầu mang tính quyết định, họ phải đóng bỉm mà đá bóng.

Nhưng giờ thì thầy trò HLV Toppmoeller chẳng còn tâm trí để nhớ lại câu nhạo báng ngày nào nữa. Họ chỉ có 4 ngày để chuẩn bị cho trận đấu danh giá nhất trong lịch sử: trận Chung kết Champions League với Dải ngân hà 1.0 của Real Madrid. Đánh bại Kền Kền Trắng, tất cả nỗi buồn, nỗi thất vọng ở nước Đức sẽ trôi đi hết, cuộc diễu hành ăn mừng thắng lợi sẽ kéo dài cả thế kỷ, vì đây là Champions League.

Bi kịch thay, họ đã thua. “Đội hình của thập kỷ” gục ngã trước “Bàn thắng của thập kỷ”.

Tất cả kết thúc theo một cách tồi tệ nhất, chỉ sau 3 tuần lễ. Không pháo hoa, không bia, không Champagne, không thuốc lá, những gì còn lại chỉ còn là một màu xám xịt.

Neverkusen

Một năm sau đó, mọi chuyện còn tồi tệ hơn: Zé Roberto và Michael Ballack đến Bayern Munich với cái giá rẻ mạt (13 và 6 triệu euro), đội bóng kết thúc mùa giải ở vị trí ngay sát nhóm cầm đèn đỏ, còn triều đại của Klaus Toppmoeller đã kết thúc từ tháng Hai. Chu kỳ thành công của Bayer Leverkusen chấm dứt tại đây.

Một kết thúc buồn cho Bayer Leverkusen mạnh nhất trong lịch sử. Ngày ngày, người hâm mộ vẫn tự hỏi không biết tới khi nào Bayer có lại một thế hệ tuyệt vời như vậy, đem lại niềm tin chiến thắng mãnh liệt đến vậy. Thời gian có thể chữa trị nhiều vết thương, nhưng vết thương Vizekusen 2002 có lẽ sẽ chẳng bao giờ được chữa lành.

Vị chúa của bóng đá không đến từ Leverkusen

– Michael Ballack

 

* :  Trong tiếng Đức, “Vize” nghĩa là thứ nhì.

**  : Jens Nowotny gặp phải chấn thương đầu gối rất nặng và không thể phục hồi phong độ trước đây.

***: Trước vòng đấu cuối cùng của mùa giải 1999/2000, Bayer Leverkusen hơn Bayern Munich 3 điểm và chỉ phải gặp đôi bóng đứng giữa BXH Unterhatching. Tuy nhiên, Bayer đã để thua 0-2 với một bàn phản lưới nhà từ chân Michael Ballack, trong khi Bayern thắng và vô địch nhờ hiệu số bàn thắng vượt trội.

BÌNH LUẬN

TÁC GIẢ
Minh Hiếu
16 bài viết
“Phiến diện”
Phát bóng lên ^