Michael Ballack – Tiền vệ hoàn hảo

bởi Dũng Lê ·

Theo mình, tiền vệ trung tâm toàn diện nhất trong bóng đá từ trước tới nay là Vua về nhì Michael Ballack. Từ phòng ngự, phân phối, kiến tạo, chuyền bóng, sút xa và cả đánh đầu anh đều làm rất tốt. Đặc biệt còn có tinh thần chiến đấu, sự máu lửa nhưng lạnh lùng, tư chất thủ lĩnh và cả tiểu xảo khi cần thiết. Ad có thể viết 1 chút về Ballack cũng như kể tên những cầu thủ có những phẩm chất giống như anh trong lịch sử không?

Trước hết, xin gửi lời tới bạn đã hỏi Bóng Đá Confession câu này, bởi nó đã tồn đọng suốt từ ngày 08/12/2013 đến giờ.

Và cũng chúc mừng bạn đã nói lên tất cả những gì có thể nói được về Michael Ballack. Anh là một tiền vệ trung tâm hoàn hảo.

1. Một chút cho Ballack

Michael Ballack đã giành được rất nhiều, nhưng ngoảnh đi ngoảnh lại, người ta vẫn nhớ tới anh vì những miếng ăn đến miệng còn tuột rơi hơn là những thành công. Nói vui thì những gì anh đạt được cũng chỉ là một chút. Một chút ở đây là so với tầm cỡ của những huyền thoại, nơi anh xứng đáng đứng ngang hàng những siêu sao vĩ đại của quá khứ. Ở Đức, người ta gọi anh là unvollendeter, tức một người chưa hoàn thành được mệnh lệnh giao phó. Nhưng xem ra, cách gọi này hơi nặng nề với anh. Vì sao nặng nề ư?

Ballack khởi đầu sự nghiệp ở Chemnitzer FC, đội bóng cấp làng xã nhỏ lẻ. Mùa đầu tiên đá cho đội một, được thi đấu ở 2. Bundesliga, Ballack gây ấn tượng với khả năng sử dụng cả hai chân một cách hoàn toàn thuần thục dù còn rất trẻ. Mùa thứ hai, đội bị rớt hạng xuống Regionalliga Nordost, Ballack được đá chính và ghi tới 10 bàn sau 34 trận.

Anh lọt vào mắt xanh của HLV huyền thoại Otto Rehhagel và được ông đưa về Kaiserslautern, đội bóng mới thăng hạng lên 1. Bundesliga khi ấy. Ngay trong mùa bóng này, họ lập tức vô địch Bundesliga – chiến tích mà có lẽ chỉ Hoàng Anh Gia Lai của Việt Nam sánh nổi. Nói vui là thế nhưng đây thực sự là một kỳ tích – đến nay vẫn nhiều người cho rằng King Otto đã làm nên một điều thần kỳ. Mùa ấy, Ballack ra sân 16 lần. Lần đầu tiên được đá chính của anh chính là gặp Bayer Leverkusen.

Michael-Ballack Bayer Leverkusen

Ngay mùa sau đó, Ballack chiếm suất đá chính tại Kaiserslautern và được Leverkusen chiêu mộ. Tại đây thì anh khởi đầu cho một sự nghiệp mà ai ai cũng biết – cú ăn ba… về nhì mùa 2001-02. Mùa ấy, Ballack ghi 23 bàn – con số kỷ lục trong sự nghiệp của anh, nhưng vẫn không thể một mình gánh đội.

World Cup 2002, Đức vào cuộc với vị thế một đội bóng đầy bất ổn. Thủ lĩnh tinh thần là Oliver Kahn huyền thoại, nhưng thủ lĩnh chuyên môn đích thực của họ phải là Michael Ballack. Anh trở thành chân kiến tạo xuất sắc nhất Die Mannschaft tại giải đấu này và đến nay, hầu hết mọi người đều đồng nhận định rằng anh đã “một mình gánh đội”. Trận chung kết, Ballack bị treo giò oan nghiệt và Đức dễ dàng thua trước một Brazil huyền thoại.

Mình không biết các bạn nghĩ sao, nhưng ở vị thế của cầu thủ hay nhất của cả CLB lẫn ĐTQG, sau bao nhiêu nỗ lực suốt một năm trời mà tới 4 lần về nhì thì quả đáng đau đớn. Cũng từ đó, biệt danh “Tiểu Hoàng đế” biến mất, và biệt danh mới được gán cho anh: “Vua về nhì”.

Bỏ lại những năm tháng tiếc nuối cùng Neverkusen, Ballack chuyển sang chơi cho Bayern Munich – tập đoàn bóng đá vĩ đại nhất nước Đức. Trước đó, anh từ chối Real Madrid. Ballack ký vào bản hợp đồng 4 năm, mở ra một thời kỳ huy hoàng nhất trong sự nghiệp cá nhân. Mỗi trận Ballack ra sân là một lần hàng thủ đối phương run rẩy. Thi đấu ở vị trí tiền vệ công, anh làm mọi thứ: lĩnh xướng, điều phối, kiến tạo, ghi bàn. Bayern giành 3 chức vô địch Bundesliga và 3 DFB-Pokal. Ballack như giải hạn. Cơn khát danh hiệu của anh được đáp lại bằng một cơn mưa.Michael Ballack Bayern Munich

Nhưng tầm cỡ của Bayern chưa bao giờ dừng lại ở nước Đức. Cũng như mọi siêu đại gia châu Âu khác, họ muốn vươn lên đỉnh cao thực sự: Champions League. Tiếc thay cho Ballack khi Munich không thể tiến lên đỉnh cao này, và anh trở thành một con cừu đen. Hàng loạt chỉ trích xuyên năm tháng được nhắm vào anh từ bộ ba quyền lực gồm giám đốc điều hành Uli Hoeneß, giám đốc truyền thông Karl-Heinz Rummenigge và chủ tịch Franz Beckenbauer khi họ cho rằng anh cố tình giữ chân trong những trận quyết định.

Giữ chân gì chứ, với một người lúc nào cũng trong phận “gánh team” như anh.

World Cup 2006, Đức của Ballack bị loại bởi người Ý trong những phút cuối cùng của hiệp phụ thứ hai, trận bán kết. Năm ấy, lực lượng của Đức đã khá hơn 4 năm trước với một loạt tài năng trẻ như Philipp Lahm, Bastian Schweinsteiger hay Lukas Podolski, nhưng cũng chẳng nghĩa lý gì. Lại xuất hiện chỉ trích vào cái duyên “chết trước ngưỡng thiên đường” của anh.

Và khi người ta nghi ngờ thì anh cũng chẳng muốn ở lại. Dù từng thừa nhận rằng mùa giải 2005-06 là đỉnh cao của bản thân nhưng Ballack chưa bao giờ thực sự hài lòng về nó – khi anh chịu quá nhiều sự nghi ngờ. Bạn biết đấy, người ta phải có trình độ đến cỡ nào đó mới bị “dìm hàng” dù đã mang về 6 danh hiệu khác nhau trong 4 năm cho CLB chứ?

Thế là Ballack quyết không gia hạn hợp đồng với Bayern và chuyển tới London. Vừa đến, anh đã tuyên bố muốn giải nghệ ở đây – giấc mơ hơi màu hồng. Công thần William Gallas bị tước số áo 13 yêu thích vì Ballack muốn nó, sau cùng cáu giận ra đi.

Ở Chelsea, Ballack dần thi đầu thấp hơn. Anh gây ấn tượng với một phong thái đầy chất thép trong lối chơi. Ban đầu anh chơi như một con thoi, nhưng sau khi Claude Makelele chia tay Chelsea, Michael lùi thấp hơn nữa. Chắc nhiều bạn vẫn còn nhớ bộ tứ vệ Carlo Ancelotti gây dựng trong sơ đồ 4-4-2 mê hoặc năm 2009: Ballack đá trụ, Michael Essien và Frank Lampard chơi hai bên, Deco trên đỉnh kim cương. Đối thủ thì khó chịu với một gã cao to đầy tiểu xảo, đồng đội thì an tâm với một hòn đá tảng sau lưng.

Ballack Chelsea

Có lẽ, hiếm có tiền vệ công nào có thể trở thành một tiền vệ thủ mà vẫn giữ được đẳng cấp cao nhất. Ballack nằm trong số ít ỏi ấy.

[John] Terry nợ tôi một chiếc cúp Champions League.

Không quá bất ngờ khi đó là những gì Ballack cười nói khi được hỏi về những năm tháng tại London. Anh yêu CLB này – hơn Bayern, nơi anh đã có những năm tháng đỉnh cao nhưng luôn bị nghi ngờ. Nhưng sau cùng, bộ ba Hoeneß – Rummenigge – Beckenbauer cũng đúng một phần, bởi Ballack luôn mang theo một cái duyên đen đủi. Anh kết thúc 4 năm trong màu áo xanh với 7 danh hiệu khác nhau, nhưng ấn tượng lớn nhất lại là… 4 lần về nhì.

À, chút nữa quên. Xen lẫn trong đó, anh lại một lần nữa về nhì ở Euro 2008. Năm ấy Ballack và các đồng đội không thể khuất phục một tập thể Tây Ban Nha sau này đi vào huyền thoại. Đó cũng là giải đấu lớn cuối cùng của anh trong màu áo ĐTQG.

Ballack bị “lệch gió” rất nặng với những tài năng trẻ đang lên. Trong trận đấu thuộc vòng loại World Cup 2010 gặp Xứ Wales, anh mắng mỏ Podolski và… nhận một cái tát.

Ít lâu trước khi đại hội bóng đá thế giới diễn ra tại Nam Phi, một pha vào bóng thô bạo của Kevin-Prince Boateng khiến anh cay đắng ngồi ngoài. Tiếc cho Ballack rằng thành quả từ cuộc cách mạng bóng đá của người Đức năm ấy đơm hoa kết trái: Lahm kế thừa băng đội trưởng của anh và sau này đi vào lịch sử; Thomas Muller kế thừa số áo 13 của anh và chưa bao giờ bị nghi ngờ; Mesut Ozil kế thừa vị trí tiền vệ công của anh và trở thành một chân chuyền xuất sắc.

Con đường trở lại ĐT Đức của anh trở nên gian nan. Như một ông già xấu tính, Ballack liên tục có những màn chỉ trích trên các mặt báo nhắm vào Joachim Low và Lahm. Nhưng anh không còn tiếng nói nữa.

Trở về Leverkusen năm 2010, Ballack lần đầu tiên rơi vào tình trạng phải làm cầu thủ dự bị – xoay vòng. Anh không chấp nhận. Leverkusen lại về nhì ngay năm đầu tiên Ballack trở lại, nhưng lần này không có sự tiếc nuối nào được anh thể hiện. Anh ngày càng trở nên cộc cằn với mọi thứ. Sự nghiệp của anh xuống dốc nhanh chóng. Được HLV Low dành cho một trận đấu để tôn vinh cũng như tạo điều kiện cho anh cán mốc 100 trận, anh từ chối vì cho rằng đó là một “trò hề”.

Kiểu nói và nội dung trong thông báo của Low chính là cách ông ta đối xử với tôi kể từ chấn thương nặng của tôi từ mùa hè trước. Lấy một trận giao hữu được dàn xếp từ rất lâu trước để làm trận tạm biệt là một trò hề với tôi. Tôi biết tôi nợ NHM của tôi trận đấu này, nhưng tôi không thể chấp nhận nó.

Hết mùa giải 2011-12, Ballack giải nghệ. Anh thừa hiểu sự nghiệp của mình không có đủ những danh hiệu tầm cỡ. Anh cũng rất biết vị trí của mình là ở đâu.

Những danh hiệu đôi khi được đánh giá quá cao. Dĩ nhiên Lothar Matthaus sẽ luôn được nhớ tới bởi World Cup 1990. Nhưng liệu có ai lập tức nhớ đến danh hiệu nào cho Gunter Netzer, Johan Cruyff hay Luis Figo không? Hay người ta cũng sẽ nghĩ về họ bởi thứ bóng đá họ chơi, cách họ dẫn dắt tập thể? Tôi hi vọng mọi người sẽ nhớ tới tôi như một cầu thủ đặc biệt.

Đó là lời tâm sự của cầu thủ đã giành tới 14 danh hiệu tập thể trong sự nghiệp. Anh nói như thể chúng là vô nghĩa. An tâm, Ballack, mọi người sẽ nhớ tới anh như một cầu thủ đặc biệt.

Công bằng mà nói, Ballack là một cầu nối giữa hai giai đoạn huy hoàng. Thời gian anh chơi cho Đức là những năm tháng hiếm hoi tài năng. Ballack là một ngôi sao trong màn đêm đen kịt. Nói như phóng viên Marcus Christenson của The Guardian thì anh không có Marco Reus hay Mario Gotze để bật tường, mà chỉ có Torsten Fring và Carsten Jancker chạy quanh. Dù anh có xấu tính đến thế nào trong những năm cuối sự nghiệp thi đấu thì ĐT Đức vẫn phải dành cho anh một vị trí trang trọng trong lịch sử, đơn giản là vậy. Người đồng đội hay nhất của Ballack ở ĐTQG có lẽ “chỉ” là Miroslav Klose.

Tôi không cho rằng việc anh mặc số áo 13 khiến cho anh trở thành “vận đen”. Đơn giản, anh là người hùng không gặp thời. Định mệnh của anh là làm một đội Đức tầm trung trong giai đoạn những năm 2000 giữ nguyên tầm vóc.

Michael Ballack Germany

2. Những cầu thủ có phẩm chất giống anh trong lịch sử

Quả thực hơi khó để trả lời phần này của câu hỏi. Luôn có một cái gì đấy thiếu thốn so với Ballack khi đem so với những cầu thủ khác, bởi anh cao to, nhanh nhẹn, kỹ thuật tốt, tâm lý vững, nhạy bén chiến thuật, chuyền và sút được bằng cả hai chân, chơi đầu hay, tắc bóng tốt.

Steven Gerrard là cái tên hiện ra đầu tiên với điểm chung là khả năng dẫn dắt tập thể, những cú sút búa tạ và khả năng tranh chấp tuyệt hảo, tuy nhiên lại không chơi tốt bằng cả hai chân và cũng không có cảm quan vị trí tốt bằng. Frank Lampard cũng tương tự, dù có cảm quan vị trí sánh ngang nhưng lại không phải một chân tắc bóng đủ hay như Ballack.

Bastian Schweinsteiger và Dejan Stankovic cũng có thể đem so sánh, nhưng họ đều chưa được thử sức hẳn hoi cho vị trí tiền vệ lĩnh xướng hàng công. Nemanja Matic cũng vậy.

Có lẽ phải chờ ý kiến đóng góp thêm từ các bạn khác, bởi ở phần này mình không tự tin để trả lời, do xem bóng đá chưa lâu đến độ nắm được những ngày xưa cũ.

BÌNH LUẬN

TÁC GIẢ
Dũng Lê
154 bài viết
“Cruyffian.”
Phát bóng lên ^