Bóng đá – Quỷ tha ma bắt!: Cuộc đời Alex Ferguson (P1): Giữa đàn bò

bởi chinhngd ·

Có những nơi mà tôi sẽ nhớ suốt đời

Dù nhiều điều thay đổi

Có những điều không cần phải là tốt nhất để trở thành mãi mãi

Có những điều đã mất đi và những điều còn lại

Tất cả những nơi này đều ghi dấu những khoảnh khắc

Tôi sẽ nhớ tất cả những điều đó cùng bạn bè và những người thương yêu

Có những người đã ra đi, có những người ở lại

Những thứ trong đời, tôi yêu hết thảy

Nhưng với tất cả tình bạn và tình yêu

Không gì sánh được với các bạn

Và những ký ức không còn nhiều ý nghĩa

Khi tôi nghĩ về tình yêu như điều gì mới mẻ

Dù tôi biết mình sẽ mãi nhớ về những người và những điều đã qua

Tôi biết mình sẽ thường dừng lại và nghĩ về chúng

Những thứ trong đời, tôi càng yêu hơn

Trong một nỗ lực viết lời tựa (bất thành) cho cuốn sách về Sir Alex Ferguson, đang trong quá trình dịch, mà tôi sắp gửi đến các bạn, tôi đã nghĩ đến “Working class hero”. Nhưng tựa đề bài hát của John Lennon (nhạc sỹ mà Sir yêu thích) về tầng lớp lao động – những người ông luôn tôn trọng và ủng hộ hết mình – không phải điều ông hướng đến trong cuộc đời, cũng không thể mô tả hết những gì ông đã đạt được cho bản thân, cho các học trò, và cho câu lạc bộ, cũng như những gì ông đã mang đến cho các cổ động viên, cho thế giới bóng đá.

Những gì các bạn sắp đọc được dịch từ cuốn tiểu sử về Sir Alex Ferguson của nhà báo Patrick Barclay mang tên “Bóng đá – Quỷ tha ma bắt!”. Dù cực kỳ thần tượng huấn luyện viên huyền thoại người Scotland và cũng đã từng đọc hai cuốn tự truyện của ông, tôi tình cờ (xấu hổ thay) mới biết đến cuốn sách qua sự giới thiệu (cũng tình cờ) của Dũng Lê. Việc cuốn sách được viết ở góc nhìn thứ ba bởi một nhà báo chắc chắn sẽ hấp dẫn những ai muốn tìm hiểu thêm về người đã dựng nên một trong những thánh đường lớn nhất của túc cầu giáo, một siêu đế chế thể thao và tài chính, ngoài những điều đã được biết qua chính lời kể của ông. Sau khi cố gắng tìm kiếm mà không thấy một bản dịch tiếng Việt nào của cuốn sách, tôi quyết định tự mình làm điều đó.

Những gì tôi thực hiện trước hết nhằm phục vụ sở thích và nhu cầu thông tin của bản thân, sau là để chia sẻ với những người quan tâm đến khía cạnh nào đó về Sir Alex Ferguson và những điều liên quan đến ông. Do điều kiện khách quan và chủ quan (cũng thật hổ thẹn, đa phần là chủ quan) tôi chưa được sự đồng ý của bất cứ đơn vị nào giữ bản quyền cuốn sách. Vì thế, những cách chia sẻ riêng tư có lẽ sẽ thích hợp hơn nếu bạn muốn có ai đó cùng đọc với mình. Được thực hiện bởi một người không chuyên, chắc chắn bản dịch sẽ có nhiều thiếu sót. Người dịch rất mong các độc giả ngoài việc động viên còn góp ý để bản dịch hoàn thiện hơn.

Rất hy vọng một ngày, dù đã không còn hot, cuốn sách của Patrick Barclay sẽ đàng hoàng có mặt trên các kệ sách.

[Suit – wait for it…] Hãy cùng bước vào cuộc đời của một trong những người đàn ông quyền lực bậc nhất Vương quốc Anh […wait for it…] qua góc nhìn của một chuyên gia […still wait for it…] bằng lời dịch của một người yêu bóng đá. [Up!]

Manchester United v Aston Villa - Premier League Ảnh: The Guardian

Ảnh: The Guardian

Ghi chú biên tập: 4231 hoàn toàn không nhận được hoặc thu về bất kỳ nguồn lợi tài chính nào từ việc đăng bản dịch của cuốn sách. Bản dịch được thực hiện và gửi về chủ động, độc lập từ chinhngd. 4231 sẵn sàng hợp tác với bất kỳ bên nào có quyền pháp lý liên quan tới cuốn sách này trong mọi trường hợp.

* * *

Bóng đá – Quỷ tha ma bắt!:

Cuộc đời Alex Ferguson

Patrick Barclay

Yellow Jersey Press

LONDON

I. HIỂN NHIÊN LÀ NHƯ VẬY

01. Giữa đàn bò

Đêm từng đêm, những cơn gió lạnh từ Biển Bắc không ngừng táp vào bức tường phía sau đường The Beach End. Cần nói thêm rằng, mặc dù phần khán đài lộ thiên của SVĐ Pittodrie của CLB Aberdeen được đặt theo tên của bãi biển phía Đông, nó không mang lại cảm giác yên bình như Malibu hay Manly.

Gió vẫn rít từng hồi, nhưng tiếng ồn từ đám đông đã tắt từ lâu. Toàn bộ 24.000 khán giả đã theo Merkland Road trở về thành phố, như thường lệ chỉ còn vài cậu bé cùng cha mẹ ở lại chờ xin chữ ký, và các nhà báo, những lao công chăm chỉ của môn thể thao, ở lại thu dọn nốt những gì sót lại sau trận đấu giữa Scotland và Anh, trận tứ kết giải vô địch U-21 Châu Âu đã kết thúc không bàn thắng, Scotland bị loại do đã thua trận lượt đi ở Coventry.

Đứng trên sân, Alex McLeish nghiêm nghị, Steve Archibald rầu rĩ, Alan Brazil lúc nào cũng như mỉm cười – tất cả đều biểu lộ sự tiếc nuối. Kẻ chiến thắng, người Anh, với những gã khổng lồ đã trở thành đặc sản như Terry Butcher hay Glenn Hoddle, đã cố không tỏ ra quá lạc quan về cơ hội giành Cúp Châu Âu vào mùa xuân đó. Nhưng tất nhiên họ không giấu được sự tự tin (quá đà, Anh thua Đông Đức cả hai lượt ở vòng sau). Những cây viết bóng đá hoàn thành nốt công đoạn quen thuộc – một nghi lễ trước khi lên giường hoặc lên bar – và vào đêm tháng Ba 1980 này, cũng như mọi đêm có trận đấu khác, một nhóm phóng viên từ Anh sau khi xào xáo những câu họ gọi là “trích dẫn”, chuyển chúng cho các tòa soạn, điện thoại về bộ phận tin tức ở London (thời đó chưa có máy tính xách tay), ném mình vào con đường tối, đi tìm một chút thảnh thơi.

Cùng lúc đó, đèn pha của một chiếc xe mui kín bóng lộn chậm rãi bò ra khỏi bãi đậu xe của sân Pittodrie, vội vã quay sang hướng Merkland Road. Cửa sổ lái từ từ hạ xuống, hiện ra chân dung của Alex Ferguson.

Dù Ferguson chưa từng làm việc ở Anh, một vài tay trong số nhà báo chúng tôi vẫn nhận ra huấn luyện viên trẻ đầy tiềm năng của Aberdeen, người vừa có chiếc cúp đầu tiên trong số ba chức vô địch Scotland.

Mấy ông đi đâu đấy? – anh ta hỏi chúng tôi.

Tụi này định kiếm taxi về khách sạn.

Hẳn Ferguson đã phải cố để khỏi phì cười trước một đám Sắc-xông tưởng Merkland Road là Park Lane ở khu West End London.

Bói đâu ra taxi ở đây giờ này. Lên đi các bố.

Cuộc hội ngộ đó, cùng vài lần tiếp xúc khác, Ferguson có được cảm tình của giới truyền thông bên lề bóng đá Anh. Chút tiếng tốt đó đã giúp anh trụ lại lúc đội bóng xếp thứ 19 trong số 22 đội ở giải Hạng Nhất, sau khi đến Manchester United năm 1986 thay Ron Atkinson bị sa thải. Kết quả dần cải thiện, dẫu vậy lại không ổn định. Kết thúc mùa 1986/87, bất chấp việc trụ hạng thành công, nhưng trong số những thất bại, United đã để thua cả Wimbledon (hai lượt), Oxford United, Norwich City và Luton Town.

Một cựu siêu sao ở Old Trafford đã nói Ferguson không làm người hâm mộ, gồm cả những con trai lớn của ông, hài lòng. Ông bảo ông luôn nói với các con mình cần kiên nhẫn và nhớ rằng mọi người ở CLB nghĩ HLV người Scot là một “chàng trai tốt”. Điều đó không thuyết phục được chúng. “Tốt!” chúng làu bàu. “Tụi con không cần một anh chàng tốt. Tụi con muốn một thằng khốn mang về chức vô địch.”

Cuối cùng thì những cậu trai đó có được tất cả những điều họ muốn, tất cả. Ferguson, cùng với việc giành về mười một chức vô địch nước Anh cho United, bản thân ông mang luôn tiếng là một trong những tay khó chơi nhất giới bóng đá, đặc biệt phải kể đến những mối quan hệ không hề thắm thiết như những phát biểu trước công chúng với một số cựu học trò.

Và rõ ràng là ông không ngần ngại tuyên chiến với cánh báo chí. Khoảng 22 năm sau sự lịch thiệp ở Aberdeen – tháng Năm 2002, một ngày trước khi Arsenal hành quân đến Old Trafford để khẳng định chức vô địch – khi ông còn chưa ấm chỗ trong buổi họp báo, phóng viên tờ The Sun đã đặt câu hỏi về mùa giải đầu tiên của Juan Sebastián Verón tại United. Ông ném nó lại cho tay phóng viên, người đáp rằng anh ta không nghĩ màn trình diễn của Verón là đáng đồng tiền bát gạo.

Ferguson nổi điên, kết thúc buổi họp báo khi còn chưa kịp bắt đầu. Ông gào lên:

Cút! Tôi đéo nói chuyện với anh. Verón là một cầu thủ giỏi. Các anh toàn một lũ ngu như bò!

Điều đó đúng trong chừng mực Verón luôn ở mức tiệm cận với vị thế của một ngôi sao. Lần đầu tôi xem anh chơi là trận giao hữu giữa Argentina và Brazil trên sân Maracanã ở Rio de Janeiro năm 1997. Anh ta khi đó còn chưa đến 22 và đang đá ở Ý cho Sampdoria. Argentina thắng 1-0 trước đội chủ nhà nhờ những đóp góp không biết mệt mỏi của Verón. Người ta chờ đợi anh toả sáng ở World Cup sắp diễn ra ở Pháp nhưng, dù đã có màn trình diễn ấn tượng trong trận đấu David Beckham của tuyển Anh bị đuổi, Verón đã không hoàn toàn đạt được phong độ như mong đợi. Sau đó anh chuyển sang Parma rồi Lazio, nơi Ferguson đã phải chi 28 triệu Bảng để có được anh.

Ferguson Veron ảnh talksport

Ảnh: TalkSport

Sau vụ họp báo đó, Ferguson giữ Verón ở lại thêm một mùa trước khi thu lại 15 triệu Bảng bằng cách bán anh sang Chelsea, nơi anh cũng không ở lại lâu. Verón quay lại Ý một thời gian ngắn với Internazionale rồi trở về Argentina phục vụ Estudiantes de La Plata, nơi anh chơi hay đến mức được Diego Maradona gọi lại ĐTQG dự 2010 World Cup.

Nguyên nhân nào khiến Verón thất bại ở Anh? Giả thuyết phổ biến và có lý nhất là anh không đáp ứng được yêu cầu rất cao về thể lực ở giải Ngoại hạng. Điều đó cũng có nghĩa là dự đoán của lũ bò đã đúng – và Ferguson không thể thích thú với việc bị bóc mẽ bởi thứ mà ông cho là thấp kém hơn.

Không phải tự dưng mà ông ghét cánh báo chí. Ông lớn lên trong vai một cầu thủ bóng đá ở Scotland vào thời buổi người ta có thể thân thiết với một người, thường thì hoá ra lại là một nhà báo. Một lần, Ferguson tiết lộ, trong khi bị treo giò ở trận đấu của Rangers ở nước ngoài, ông và đồng đội, Sandy Jardine, đã ngồi ở khu vực báo chí, viết bài rồi đăng dưới tên một nhà báo của tờ Scottish Daily Express. Nhưng trong suốt những năm qua, trong khi vẫn duy trì tình bạn với cánh nhà báo già, đặc biệt là huyền thoại Hugh McIlvanney của tờ The Observer rồi Sunday Times sau này, những sự thay đổi của báo chí ngày càng khiến ông khinh thường.

Những phải ứng đó không hẳn thái quá, xu hướng bịa đặt và thổi phồng đã làm biến thái cả một số tờ báo truyền thống của ngành, rồi thì những vụ nghe lén liên quan đến, trong số nhiều vụ khác, Sven-Göran Eriksson và ông chủ tịch FA kém may mắn Lord Triesman (người từ chức tháng Năm 2010 sau khi bị nghe trộm đang đưa ra những ý kiến thiếu khôn ngoan trong cuộc đua đăng cai 2018 World Cup). Có lần Ferguson bảo tôi:

Những kẻ đó không xứng được gọi là nhà báo. Thứ nhà báo gì mà đi làm những chuyện như vậy?

Chắc chắn là như vậy rồi.

Ông đã vô lý trách mắng một số phóng viên trẻ vì họ mặc quần bò rách tại các buổi họp báo, như thể bản thân ông không thường xuất hiện với đồ thể thao hay thậm chí là quần đùi. Hiếm khi Ferguson tỏ ra cần nhìn lại bản thân và thành công làm điều đó càng ngày càng trở nên rõ ràng. Ông có thể than vãn về sự bất công trong khi không hề công bằng với, khỏi nói, các trọng tài. Ông yêu cầu sự tôn trọng trong khi, dần dần, thô lỗ đầy mình. Khi cô phóng viên truyền hình Rebecca Lowe ở Birmingham hỏi một câu hỏi bình thường, ông nọc lại:

Cô có xem trận đấu hay không?

Đó là vào đầu mùa giải 2009/10, năm ông 67 tuổi. Sir Bobby Robson, người Ferguson luôn ngưỡng mộ, cũng ở tuổi đó khi gặp tôi trong buổi phỏng vấn cho cuốn tiểu sử về José Mourinho. Robson nói:

Để tôi nói anh hay những gì xảy ra với một HLV thành công. Nó đến với với tôi. Nó đến với với tất cả chúng ta. Chúng ta giành được chút quyền lực, phải không? Thành công đó… anh biết anh muốn gì… anh biết mọi người nghĩ gì về anh. Và quyền lực này, sự kiểm soát anh có đối với mọi người, gắn chặt vào anh. Anh sử dụng vị thế anh có để trở nên quyền lực hơn. Mạnh hơn cả sức mạnh bản thân anh vốn có.

Cuối hè 2009, một lễ tưởng niệm Sir Bobby được tổ chức ở Nhà thờ Durham và Ferguson đã có một bài phát biểu cảm động, như ông luôn làm, khi được mời lên nói (bài phát biểu có nói đến việc không ai tham dự nhiều lễ tang hơn ông, điều đáng suy nghĩ với một người còn nhiều việc để làm). Trên chuyến tàu về London, tôi ngồi cùng McIlvanney và không bỏ qua cơ hội hỏi về người bạn của ông. “Alec!” – ông nói (tên tắt của Ferguson chỉ được đọc thành “Alex” sau khi ông rời Scotland) – “là người tốt.” Một cách từ tốn, McIlvanney dừng lại ở đó, dù biết tôi muốn chi tiết hơn thế. Nhưng để nói về Ferguson, tất nhiên rồi, chỉ cần đơn giản vậy thôi.

(hết kỳ 1, còn tiếp)

BÌNH LUẬN

TÁC GIẢ
chinhngd
6 bài viết
“To live is to die”
Phát bóng lên ^