Những cầu thủ chạy cánh truyền thống đã tuyệt chủng?

bởi Thành Vũ ·

**Chuyển ngữ từ bài của Abhinav Chakraborty trên The False 9**

Người dịch: Bài viết này được thực hiện năm 2012, và một số những ví dụ ở phần cuối đã không chính xác hoặc thay đổi ít nhiều so với thực tại. Tuy nhiên, mình thấy bài viết là một kiến thức khá cơ bản nên muốn đóng góp.

Ghi chú biên tập: Bài viết đã được thêm thắt/chỉnh sửa một vài chi tiết bởi Dũng Lê để có tính cập nhật hơn và chính xác hơn.

* * *

Những ngày xưa cũ, quy tắc chơi bóng thực sự đơn giản, chiến thuật cũng không nằm ngoài sự giản đơn ấy. Những anh chàng to lớn và mạnh mẽ chơi ở giữa sân và tuyến trên, sự cứng rắn là đặc điểm của một gã bảo vệ hàng phòng ngự, một tiền đạo luôn là người nhạy bén còn ở hai biên sẽ là những cầu thủ nhỏ con và nhanh nhẹn. Ai thuận chân trái đá biên trái, thuận chân phải tất nhiên đá biên phải. Cuối cùng, người không có “đối tác chiến đấu” nào sẽ chơi trong khung thành.

Chín thập kỉ trước, sơ đồ 2-3-5 thống trị làng túc cầu. Sau đó, người đàn ông tên Herbert Chapman, huấn luyện viên trưởng của Huddersfield (và sau đó là Arsenal) xuất hiện. Ông quyết định thay đổi cách vận hành trận đấu và xoay sơ đồ truyền thống 2-3-5 sang cách bố trí đội hình chữ W-M lừng danh sau này (sơ đồ 3-2-2-3).

HLV Herbert Chapman, người đã sáng tạo ra sơ đồ WM Ảnh: World Soccer

HLV Herbert Chapman, người đã sáng tạo ra sơ đồ WM và lối chơi trực diện (giữa) – Ảnh: World Soccer

Chapman đã loại bỏ hoàn toàn lối chơi xuống biên ngang rồi tạt bóng ở hai cánh, ông có một niềm tin rằng những đường chuyền thẳng vào trung lộ sẽ gây nguy hiểm hơn, hiệu quả hơn.

Với triết lý đó, Chapman đã giành cả thảy hai Cúp FA, năm chức vô địch nước Anh cùng Huddersfield Town và Arsenal trong giai đoạn từ 1922 đến 1933. Tuy nhiên, nhưng hình ảnh một cầu thủ bứt tốc, băng qua hậu vệ biên và thực hiện những quả lật vào vòng cấm địa vẫn là một tư tưởng gắn chặt trong tâm trí những người yêu bóng đá Anh. Người ta tưởng rằng sự thành công mang tên Chapman đã chấm dứt những quan điểm như  thế, tuy nhiên nỗi nhớ dành cho những anh chàng chạy cánh vẫn tiếp tục được nuôi dưỡng trong tiềm thức người dân xứ sở sương mù.

Chiến tranh Thế giới lần thứ hai đến và sau đó, một lớp những cầu thủ chạy cánh xuất hiện tại đây. Stanley Matthews, Tom Finney, Jimmy Mullen, Len Shackleton, Charlie Mitten là một vài trong số những cái tên nổi lên, làm mãn nhãn khán giả với những màn phiêu lưu ở hai. Ngay lập tức, dường như những gì mà Chapman đã gây dựng bị đẩy vào quá khứ, và một lần nữa phong cách bám biên lại trở thành xu hướng ở nước Anh.

Sir Stanley Matthew - Ảnh: vk.com

Sir Stanley Matthew (trái) – Ảnh: vk.com

Điển hình cho lối chơi ấy đến vào năm 1953, gần như một mình sự xuất thần của Stanley Matthews bên phía cánh phải giúp cho Blackpool giành chiến thắng trong trận chung kết Cúp FA trước Bolton Wanderers.

Tuy nhiên, người Xô Viết lúc bấy giờ có một ánh mắt đầy miệt thị với lối đá mang tính cá nhân kiểu Anh so với lối chơi tập thể mà họ xây dựng. Huấn luyện viên trưởng câu lạc bộ Dinamo Moscow, Mikhail Yakushin nhấn mạnh:

Lối đá tập thể là kim chỉ Nam của bóng đá Xô Viết. Một cầu thủ không thể chỉ xuất sắc cá nhân, câu ta còn phải thể hiện tốt cho lối chơi của đội bóng. Những phẩm chất của cậu ta được đánh giá cao, nhưng chúng tôi đặt cả tập thể lên trước, sau đó mới đến những cá nhân. Chúng tôi sẽ không ủng hộ phong cách của cậu ấy nếu lối chơi tập thể bị ảnh hưởng.

Chiến thắng gây kinh ngạc với tỉ số 6-3 của tuyển Hungary trước Anh ngay tại Wembley diễn ra chỉ sáu tháng sau màn trình diễn sáng chói của Matthews trong trận chung kết FA Cup. Đó là sự khởi đầu cho kết thúc cho một kỉ nguyên của những cầu thủ chạy cánh truyền thống.

Dấu mốc cuối cùng cho sự chấm dứt kể trên đến với sự chuyển giao từ hàng hậu vệ có 3 người trong sơ đồ chữ W-M sang bộ tứ vệ trong những cách sắp xếp mà chúng ta vẫn quen thuộc ngày nay.

Quá trình chuyển giao diễn ra ngay đầu những năm 50 của thế kỉ trước tại Hungary, Xô Viết và Brazil. Nó nhận được sự công nhận trên toàn cầu khi Brazil giành hai chiếc vô địch World Cup liên tiếp vào năm 1958 và 1962 với sơ đồ 4-2-4.

Giữa những năm 1960, huấn luyện viên huyền thoại Alf Ramsey phát triển ý tưởng của riêng mình trên sơ đồ 4-1-3-2, cùng thời điểm bóng đá Anh có được Cúp vàng Thế giới năm 1966, cầu thủ chạy cánh không còn là những người bám biên truyền thống nữa, họ được xem như là những tiền vệ trung tâm có thể chơi rộng ra biên. Họ không chỉ đơn thuần nhận nhiệm vụ xuống biên và thực hiện những quả lật, mà còn đảm nhiệm công việc phòng ngự khi giảm thiểu tối đa hiệu quả tấn công của hậu vệ biên bên phía đối diện.

HLV Alf Ramsey, người ứng dụng những biến thể của 4-4-2 để giúp Anh giành World Cup 1966 - Ảnh: BBC

HLV Alf Ramsey, người ứng dụng những biến thể của 4-4-2 để giúp Anh giành World Cup 1966 – Ảnh: BBC

Chiến thuật bóng đá tiếp tục được tiến hóa không ngừng, những sơ đồ như 4-3-3 hay 4-2-4 được sử dụng rộng rãi trong hai thập kỉ sau đó, khi mà những tiền vệ trung tâm chơi rộng biến thành những tiền đạo hoạt động rộng, khiến những cầu thủ chạy cánh vẫn là một kí ức bị lãng quên.

Người Hà Lan với Bóng đá Tổng lực đem về những thành công mĩ mãn, lối tấn công hoa mĩ gắn liền với đội tuyển quốc gia và Ajax ở cấp câu lạc bộ thời điểm đó. Tuy nhiên, chính sự phổ biến của sơ đồ 4-4-2 (hay 4-2-4) đã giúp 4-3-3 vươn tầm. Johan Cruyff từng mô tả sự thống trị của nó như là “cái chết của bóng đá”.

Một kỉ nguyên mới xuất hiện cùng sự trở lại của những cầu thủ chạy cánh, những sơ đồ khác nhau như 4-2-3-1 hay 4-5-1 nổi lên cùng với 4-4-2. Đội hình 4-2-3-1 cung cấp hai tiền vệ trụ, cho phép huấn luyện viên sử dụng những cầu thủ chạy cánh để thực hiện những pha chồng biên với các hậu vệ.

Một kỉ nguyên mới – những cầu thủ chạy cánh chơi trái chân, họ có thể chơi ở biên đối diện, không phải là chân thuận của mình. Hậu vệ biên xuống cánh thực hiện những quả tạt trong khi những cầu thủ chạy cánh thường xuyên rẽ quả bóng vào bên trong.

Xu hướng thực hiện những tình huống cắt vào bên trong bị cho là sai lầm từ những bước sơ khai của chiến thuật bóng đá. Một cầu thủ chạy cánh truyền thống được định vị cho nhiệm vụ vượt qua hậu vệ đối phương, đưa quả bóng đến sát đường biên ngang và thực hiện những quả tạt vào bên trong vòng cấm địa.

Khi mà tiền đạo mũi nhọn bị cô lập và cần sự hỗ trợ bên trong vòng cấm từ tuyến giữa, môt cầu thủ thuần bám biên dần chuyển sang đảm nhiệm việc đi bóng vào trung lộ và kiến tạo cho trung phong cắm. Di chuyển vào trong cũng có nghĩa rằng họ sẽ sử dụng chân thuận của mình, trong khi hậu vệ đối phương ở thế khó khi bị “ngược trụ”. Hơn nữa, họ cũng có thể thực hiện những cú dứt điểm mang tính nguy hiểm cao hơn.

Đó có thể xem là lời giải thích duy nhất của sự thăng tiến của lối chơi tấn công biên hiện đại ngày nay.

robben ribery Ảnh: Bayern-AR

Robbery – cặp đôi điển hình của những cầu thủ tấn công biên hiện đại. Ảnh: Bayern-AR

Có không ít những ví dụ cho sự phối hợp của những cầu thủ chạy cánh trái kèo và các hậu vệ biên. Robert Pires và Ashley Cole (Arsenal giai đoạn Bất bại), Arjen Robben cùng Philip Lahm (Bayern Munich), Angel Di Maria và Alvaro Arbeloa (Real Madrid), hay Cristiano Ronaldo, Ashley Young hoặc Nani cùng với Patrice Evra (Manchester United). Đó là những ví dụ điển hình.

Cũng dần xuất hiện những tiền vệ tấn công thường xuyên di chuyển sang biên và tạo ra những tình huống chồng cánh. Mesut Oezil là bài học sách giáo khoa kinh điển cho những cầu thủ như thế, cũng có thể kể đến những tiền vệ kiểu như Niko Kranjcar hay Luka Modric thời còn đá cho Tottenham Hotspur.

2012 Soccer - Real Madrid v Real Zaragoza (3-1) - January 28, 2012

Ảnh: Exposay

Hiện tại, không có nhiều đội bóng sử dụng những tiền vệ cánh thuần thúy. Barcelona, nhà vô địch châu Âu, không có một tiền vệ biên đích thực nào. Tương tự với những ông lớn tại giải Ngoại Hạng Anh như Arsenal hay Chelsea, họ hầu như không còn nhu cầu sử dụng những tiền vệ chạy cánh kiểu truyền thống nữa. Jesus Navas tại Manchester City có lẽ là hình ảnh hiếm hoi duy nhất của mẫu này.

Tuy nhiên, trong những năm đầu thập niên 2010, những đội bóng như Manchester United hay Tottenham Hotspur vẫn dựa trên một niềm tin rằng lối chơi xuống biên sẽ là yêu tố cần thiết trong triết lý phản công của họ. Manchester United sở hữu Antonio Valencia, một tiền vệ cánh phải thuận chân phải, sự gợi nhớ đến những ngày xưa cũ. Spurs thì dùng cặp Aaron Lennon và Gareth Bale ở hai biên, tấn công đối thủ bằng những cú bứt tốc mãnh liệt.

Câu chuyện những cầu thủ chạy cánh truyền thống bây giờ đã sang một chương mới, những người có thể vượt qua hậu vệ biên, ghi bàn và thậm chí đóng vai trò một người kiến thiết hơn là chỉ cố gắng xuống sát biên và thực hiện những quả tạt. Với sự tiến hóa của chiến thuật, chúng ta sẽ có thể chứng kiến anh ta có thể làm mọi thứ với quả bóng trên sân.

BÌNH LUẬN

TÁC GIẢ
Thành Vũ
137 bài viết
“”
Phát bóng lên ^