Hà Lan tại World Cup 1978: Bóng đá, chính trị và Jan Zwartkruis

bởi Hồng Phú ·

thesefootballtimesBài viết được dịch từ bản gốc “In celebration of Holland’s underappreciated 1978 masters” của tác giả Gareth Bland tại TheseFootballTimes.co (TFT).

4231 thực hiện việc chuyển ngữ các bài viết của TFT dưới sự đồng ý hợp tác từ Omar Saleem – Biên tập viên TFT.

###

Nghĩ đến Hà Lan và bóng đá tổng lực, có lẽ ngay lập tức hiện ra trong đầu chúng ta là một Johan Cruyff – người có dáng chạy với bàn chân hơi quặp vào trong – đã cùng các đồng đội tỏa sáng trong mùa hè World Cup tại Đức năm 1974. Bốn năm sau, lần thứ hai góp mặt ở trận chung kết, tuy đã ít đi những lời khen ngợi và sự ca tụng ngay trong chính đất nước của mình, nhưng chuyến phiêu lưu của đội tuyển Hà Lan đến đất Nam Mĩ cho vòng chung kết World Cup tổ chức tại Argentina sẽ mãi được nhớ tới với cái kết thật sự hấp dẫn.

World Cup 1978, Hà Lan có thể đã không tạo được ấn tượng mạnh mẽ như cách mà họ đã làm bốn năm trước. Nhưng với việc đi đến trận đấu cuối cùng vào ngày 25 tháng 6 năm đó, thế hệ ấy xứng đáng nhận được những lời khen ngợi như những gì mà giai đoạn của Johan Cruyff đã làm được.

Argentina 78 cũng là một minh chứng cho thấy rằng thể thao và chính trị không nên song hành. Trong khi nước chủ nhà đang được quản trị bởi chính quyền độc tài quân phiệt Jorge Videla thì tại Hà Lan, thuyết tiến bộ đã được công nhận gần như tuyệt đối. Và thế là chúng ta có một cuộc đối đầu của hai trường phái tư duy ngay thềm đại hội bóng đá 4 năm mới có một lần.

Jorge Videla - CTV News

Nhà độc tài quân phiệt Jorge Videla – Ảnh: CTV News

Tiền vệ tổ chức của Tây Đức và là người tự nhận theo “chủ nghĩa cộng sản kiểu Mao Trạch Đông” (Maoism) – Paul Breitner – rút khỏi đội hình đội tuyển quốc gia, khiến Helmut Schön thiếu vắng đi tính sáng tạo mà ông mong muốn. Breitner nói rõ rằng lý do của ông chính là phản đối chính quyền độc tài quân phiệt. Sự việc này khiến nhiều người lo ngại rằng các cầu thủ khác với thái độ tương tự cũng sẽ bỏ giải. Tuy nhiên điều đó đã không xảy ra. Không có phong trào rút lui ào ạt nào để phản đối chính phủ Argentina diễn ra vào thời điểm ấy.

Chỉ có điều, tên tuổi lớn nhất không có mặt tại World Cup 1978 là Johan Cruyff. Dù đã góp công vào con đường tới vòng chung kết của Hà Lan, nhưng Johan Cruyff vẫn giữ nguyên ý định từ giã bóng đá cấp ĐTQG sau khi năm 1977 kết thúc. Ở tuổi 31, dù vóc dáng vẫn chuẩn, sức bền vẫn dẻo dai, Cruyff treo giày – đôi Puma Kings đã giúp công ghi 33 bàn sau 48 lần khoác áo da cam.

Johan Cruyff - The Sun

“Thánh” Johan từ giã đội tuyển ở tuổi 31 – Ảnh: The Sun

Động thái này bao chùm bởi sự bí ẩn và những ánh mắt hoài nghi vào thời điểm cuối năm 1977. Tất cả cuối cùng đã sáng tỏ vào năm 2008, khi Cruyff giải thích về quyết định đó trong một cuộc phỏng vấn với Catalunya Radio.

Bạn nên biết rằng tôi đã gặp nhiều vấn đề trong phần cuối của sự nghiệp cầu thủ ở đây [Barcelona]. Và tôi không biết bạn thấy sao khi một ai đó dí súng trường vào đầu, trói vợ chồng tôi lại ngay trước mặt lũ trẻ tại căn hộ của chúng tôi ở Barcelona. Các con tôi đến trường được hộ tống bởi cảnh sát. Cảnh sát thì đã ngủ ở nhà chúng tôi ba hay bốn tháng gì đó. Tôi phải đi thi đấu cùng vệ sĩ.

Tất cả điều này khiến quan điểm của tôi với nhiều vấn đề thay đổi. Có những khoảnh khắc trong cuộc sống chứa đựng nhiều giá trị một lúc. Chúng tôi muốn dừng lại và không còn quyết định nào hợp lí hơn. Đó là thời điểm để rời xa bóng đá và tôi không thể thi đấu ở World Cup sau đó.

Tuy không có Cruyff, Hà Lan vẫn sở hữu một đội hình đủ mạnh để duy trì thách thức to lớn tới các đối thủ. Bên cạnh đó, một trong những siêu sao lớn nhất mọi thời đại – Franz Beckenbauer – đã giải nghệ. Điều này khiến World Cup 1978 tại Argentina mất đi hai đại danh thủ, những người đã từng trao cờ hiệu cho nhau tại vòng tròn trung tâm bốn năm trước trong trận chung kết tại Munich. Trong khi Der Kaiser [Hoàng đế – biệt danh của Beckenbauer] đang tận hưởng cuộc sống cao cấp tại Manhattan với New York Cosmos thì Cruyff lại ở nhà và làm việc với vai trò là một chuyên gia bình luận, thậm chí giành đc cả cơ hội bình luận trong trận chung kết World Cup cùng với Brian Moore, Brian Clough, Paddy Crerand và Kevin Keegan của iTV.

Chưa hết, “Cơn lốc màu da cam” đến Argentina mà thiếu đi một cầu thủ, người thường được xem như đại diện cho một hệ thống đầy biến hóa và linh hoạt mang tên bóng đá tổng lực. Đó là lão tướng 34 tuổi Wim Van Hanegem, cựu binh của thế hệ 1974. Ông đã rút lui khi huấn luyện viên mới của Hà Lan – Ernst Happel- từ chối đảm bảo cho ông một vị trí xuất phát.

Van Hanegem - PZC

Lão tướng Van Hanegem (áo cam) từ chối lên tuyển vào năm 1978 – Ảnh: PZC

Danh sách chính thức gồm 22 người vẫn giữ được bề dày kinh nghiệm với 5 cầu thủ trên 30 tuổi. Khi Hugo Hovenkamp của AZ Alkmaar phải rời đội tuyển vào ngày cuối cùng nhưng hạn cuối để điền một cái tên thay thế đã hết, Hà Lan buộc phải đến Nam Mĩ với số lượng cầu thủ chỉ còn 21. Đội hình Ajax vĩ đại – nòng cốt và hạt nhân quan trọng trong đội bóng của Rinus Michel năm 1974 – đã không còn vào thời điểm đó, nhưng một vài cái tên vẫn được giữ lại. Năm 1978, Johnny Rep khoác áo Bastia của Pháp; Wim Suurbier ở Schalke, Đức; Johan Neeskens khoác áo Barcelona cùng Johan Cruyff.

Football, 1974 World Cup Finals, Holland team group: l-r, Cruyff, Jongbloed, Haan, Keizer, Rijsbergen, Rep, Suurbier, Jansen, Hanegem, Krol, Neeskens (Photo by Bob Thomas/Getty Images)

Đội hình Hà Lan 1974 được xem như những người vĩ đại nhất không bao giờ vô địch World Cup – Ảnh: Huffington Post

Ruud Krol là đội trưởng ở tuổi 29 với thể lực tuyệt vời và kĩ thuật hoàn hảo. Đồng hành với ông là Arie Haan, Wim Jansen, Robbie Resenbrink, Wim Rijsbergen và anh em nhà Van der Kerkhof (Willy và Rene). Tất cả đã cùng thực hiện cuộc hành trình. Thủ môn kì cựu Jan Jongbloed tuy đã 37 tuổi nhưng cũng tham dự vào chuyến đi tới bán cầu Nam mặc dù thời gian này ông không phải sự lựa chọn số một. Piet Schrijvers của Ajax mới là người bắt chính trong suốt chiến dịch vòng loại.

Ernst_Happel_1978 - Wikipedia

Ernst Happel, 1978 – Ảnh: Wikipedia

Tuy nòng cốt là những cầu thủ đã có nhiều kinh nghiệm nhưng không phải không có những gương mặt mới. Jan Poortvliet, Piet Wildschut, Johan Boskamp, Dick Nanninga, Harry Lubse và Ernie Brandts, tất cả đều chỉ có một lần khoác áo đội tuyển quốc gia trong khi tiền vệ của Ajax Amsterdam là Dick Schoenmaker chưa có lần thi đấu quốc tế nào.

Một huấn luyện viên mà không có sự cứng rắn và chắc chắn rất có thể sẽ lo lắng khi bắt đầu một chiến dịch World Cup trong tình trạng quá nhiều tài năng chưa được kiểm chứng. Ông ấy cũng sẽ khiến nhiều người lo sợ về việc tham dự giải đấu mà không có cầu thủ hàng đầu thế giới như Johan Cruyff. Tương tự, một nhà cầm quân cũng có thể hối tiếc khi không dành một vị trí trong đội hình xuất phát cho một cầu thủ kinh nghiệm, bền bỉ và tinh quái như Wim Van Hanegem. Nhưng, huấn luyện viên của Hà Lan năm 1978 thì khác.

Khi George Knobel dường như không có câu trả lời về sự “tự hủy” tại Euro 1976 ở Nam Tư, KNVB đã lập tức đưa ra sự thay đổi. Knobel rời ghế, Jan Zwartkruis nắm đội tuyển một thời gian ngắn trước khi huấn luyện viên người Áo Ernst Happel bước vào vai trò dẫn dắt Oranje năm 1977.

Jan_Zwartkruis_1977 - wikipedia

Jan Zwartkruis, 1977 – Ảnh: Wikipedia

Zwartkruis bị giáng xuống làm trợ lí huấn luyện viên hay “giám sát viên” khi World Cup trở lại, vì biểu tượng người Áo đã trở thành người đứng đầu ban huấn luyện. Dù việc bổ nhiệm tượng đài người Áo làm thuyền trưởng là hợp lý trên lý thuyết, nhưng cách năng lãnh đạo của ông đã gây nhiều vấn đề khi toàn đội đóng quân tại Mendoza. Bảng thành tích hào nhoáng của huấn luyện viên người Áo cũng không đủ để xoa dịu các cầu thủ – những người thể hiện bản thân tốt nhất dưới cách quản lý vừa cứng rắn vừa chân thành của Zwartkruis.

Với KNVB, họ mong muốn tránh khỏi trải nhiệm tệ như tại Nam Tư và bỏ qua cách lựa chọn tài năng thông thường cho đội tuyển. Happel được cho là một cái tên đã hiểu rõ tính chính trị của bóng đá Hà Lan, cũng như các cầu thủ của quốc gia này. Ông đã cùng Feyenoord vô địch quốc gia năm 1971, ngoài ra còn European Cup và Intercontinental Cup năm 1970, tất cả trong một chuỗi bốn năm và kết thúc vào 1973.

Vào mùa giải 1977-1978, đội bóng Club Brugge của ông chỉ thua Liverpool trong trận chung kết cúp châu Âu tổ chức tại Wembley, dù ông đã nhận lời dẫn dắt đội tuyển quốc gia Hà Lan từ tám tháng trước đó. Ông rời Brugge vào tháng 5/1978 với món quà chia tay cho CLB nước Bỉ là chức vô địch quốc gia, trước khi cùng Hà Lan hành quân tới Argentina.

Tuy nhiên, người đưa “Cơn lốc màu da cam” vượt qua vòng loại là Jan Zwartkruis. Cựu sĩ quan không quân Hà Lan đã sử dụng chính sách “cây gậy và củ cà rốt” (phạt nặng với sai lầm, thưởng hậu với thành công) và tạo được hiệu quả tốt. Hà Lan đứng đầu bảng đấu vòng loại bao gồm người hàng xóm Bỉ, Bắc Ireland và Iceland với khoảng cách 5 điểm. Vấn đề duy nhất của cả chiến dịch đó là việc Johan Cruyff từ giã đội tuyển quốc gia sau khi vòng loại kết thúc.

Tuy nhiên ngay từ cảm nhận đầu tiên, một bảng đấu của vòng chung kết gồm Scotland, Peru và Iran rõ rang không phải là quá khó với Á quân World Cup 1974. Độ cao của Mendoza – nơi nằm trên dãy Andes ở phía Tây Argentina – gây những vấn đề liên quan đến hô hấp, mặc dù các cầu thủ đã từng hoàn toàn không bị ảnh hưởng gì bởi hơi nóng ngột ngạt ở Mexico 1970.

###

Ngay từ trước khi Hà Lan có thể đặt chân lên mặt cỏ, những điều tiếng về chính trị, đạo đức, triết lý ở đất nước họ chuẩn bị thi đấu – nơi có khoảng 30.000 người bỗng dưng “mất tích” – đã được đem ra bàn luận. Trả lời phỏng vấn trong phim tài liệu “A Dirty Game” (2002) của Jaap Verdenius và Kay Mastenbroek, nguyên Bộ trưởng Tài chính của chế độ Videla – Juan Alemán – thì cho rằng, thương vong chính trị liên quan tới chế độ chỉ rơi vào khoảng 7.000 người.

Daniel Passarella giữ chiếc cúp vô địch thế giới trong vòng vây của lực lượng an ninh – Ảnh: TheseFootballTimes

Hồi chuông báo động vang lên đối với KNVB, những nghiên cứu sơ bộ về tình hình tại Argentina của họ đã vang vọng trong xã hội Hà Lan. Những người phản đối đặt ra khả năng tẩy chay giải đấu. Nổi bật lên trong số đó là Bram Vermeulen và Freek De Jonge – những diễn viên hài vô chính phủ.

Họ đã tổ chức rất nhiều những cuộc mít-tinh tại một trong những quán cà phê khét tiếng nhất tại thủ đô Amsterdam, Schiller Café. Tại đây họ kêu gọi một cuộc tẩy chay chính thức với World Cup vào tháng 1 năm 1978. Những người bất đồng chính kiến khác còn bao gồm Felix Rottenberg – chủ tịch của tổ chức Thanh niên Chủ nghĩa Xã hội Hà Lan, và thậm chí cả Gerard Wallis de Vries – Thứ trưởng Văn hóa và Thể thao Hà Lan.

Nhìn lại giải đấu vào năm 2002, Bram Vermeulen nhấn mạnh rằng ông và De Jonge có ý định cướp đi “thứ đồ chơi yêu thích của họ [World Cup]” vì nhận thức được tình hình tại Argentina, thông qua một người bạn của De Jonge tại tổ chức Ân xá Quốc tế. Cảm thấy điều đó có thể gắn liền với ngọn cờ tiến bộ của mình, Rottenberg của Thanh niên Chủ nghĩa Xã hội cũng nhập cuộc cùng Vermeulen và De Jonge. Ông tỏ ý muốn “tạo ra một cảm xúc phi lý trí về điều mà thông thường người ta sẽ giải quyết bằng lý trí”.

Bram Vermeulen và Freek De Jonge - TCDN

Bram Vermeulen và Freek De Jonge – Ảnh: TCDN

Ngược lại, người từng đứng đầu hiệp hội cầu thủ Karel Jansen thì cho rằng Vermeulen và De Jonge là “những kẻ gây rắc rối”. Thủ tướng Hà Lan Dries Van Agt thì dù tỏ ý đồng tình với lời kêu gọi tẩy chay, ông vẫn cho rằng quyết định cuối cùng phải thuộc về KNVB.

Một cách không mấy ngạc nhiên, các cầu thủ hầu như đều có thái độ muốn gắn chặt với chuyên môn của mình: đá bóng. Johan Neeskens cho biết:

Đừng bao giờ lẫn lộn thể thao và chính trị, nếu không thì đừng hòng tổ chức được trận đấu nào. Ở đâu trên quả đất này thì những chuyện rác rưởi cũng diễn ra mà thôi.

Gương mặt mới Jan Poortvliet cũng có ý kiến tương tự, ông thẳng thắn nói thêm:

Chúng tôi chả quan tâm tới vấn đề nhân quyền. Chúng tôi cũng không quan tâm tới một chuyện gì đang diễn ra ở đó [Argentina] chỉ vì nó sốt dẻo do chúng tôi sắp tới đó. Tôi chẳng tìm hiểu gì về tình hình ở đó cả.

Khi Poortvliet được hỏi rằng KNVB có thông báo cho các cầu thủ về bản chất của chính phủ Argentina hay không, cựu hậu vệ nói rằng: “ Hoàn toàn không”.

Nhìn lại về những hoạt động chính trị thanh niên của mình, Felix Rottenberg thừa nhận:

Dĩ nhiên đấy là một chiến dịch giai cấp trung lưu. Một giai cấp khá khẩm hơn [so với giới cầu thủ]. Họ chẳng liên hệ gì với chính các cầu thủ. Họ không tạo ra được sức ép nào cho các cầu thủ cả.

Mặc dù vậy, không chỉ những nhà hoạt động sinh viên duy tâm cảm thấy khó chịu về sự tham gia của Hà Lan. Gerard Wallis de Vries thậm chí còn không tới Argentina dự giải. Ông cho biết:

Quyết định của tôi là một quyết định mang tính cá nhân. Tôi không làm điều ấy để thể hiện gì cả.

Không có nhiều phản bác ngay trong chính phủ, De Vries nhận ra một cách rõ ràng rằng các chính trị gia đồng nghiệp của ông cũng có suy nghĩ tương tự. Ông nói thêm:

Có thể kết luận rằng góc nhìn của tôi cũng là góc nhìn chung của chính phủ. Chẳng ai thông cảm được cho sự thật là chúng tôi sẽ tham gia giải đấu ở đó.

###

Ở Argentina, thu mình trong trại huấn luyện Andean cách rất xa với Mendoza, các cầu thủ Hà Lan cảm thấy bị cô lập với văn minh. Theo Jan Poortvliet, sự chuẩn bị trong hiu quạnh vắng vẻ là lý tưởng.

Kể từ khi tới Argentina, chúng tôi bị cô lập. Từ sân bay tới xe buýt, khu resort trên núi. Chúng tôi chỉ có thể ăn, uống, tập luyện và chơi bài. Đó là tất cả những gì chúng tôi đã làm trong vài tuần đầu. Hoàn toàn bị cô lập.

Frits Kessel, bác sĩ của đội tuyển thêm vào:

Hầu hết thời gian chúng tôi không biết có những gì xảy ra xung quanh mình. Chúng tôi chỉ có những tờ báo cũ. Chẳng ai biết gì cả. Có gì xảy ra thì rất lâu sau mới hay tin.

Ở nơi Mendoza cao chót vót, cách Hà Lan vượt qua vòng đầu tiên khó có thể coi là “bùng cháy” như người ta chờ đợi. Ngày 3/6, họ vượt qua Iran dễ dàng với hat-trick của Robbie Resenbrink, trong đó có tới 2 bàn từ chấm phạt đền. Đồng phục màu cam chói lọi nhưng cách Hà Lan thi đấu thì chẳng hề cởi mở chút nào.

4 ngày trước khi gặp Hà Lan, Peru đánh bại Scotland tại Cordoba với tỉ số ấn tượng 3-1. Nhưng khi hai tập thể tấn công này gặp nhau, họ chỉ mang đến kết quả hòa 0-0 nhạt nhẽo. Chỉ cần một điểm trước Scotland sẽ giúp Hà Lan đi tiếp, nhưng họ đã suýt tạo ra một thảm họa.

Sau khi Resenbrink mở tỉ số trên chấm phạt đền, đội bóng của Happel thua liền 3 quả. Graeme Souness làm chủ hoàn toàn trung tuyến, còn Archie Gemmill thực hiện bàn thắng đẹp nhất giải. Arie Haan bị đẩy lên băng ghế kỹ thuật, trong khi Neeskens dù dính một chấn thương vẫn phải ra sân từ đầu, để rồi lại phải thay ra. Phải nhờ đến một cú sút xa muộn màng của Johnny Rep, Hà Lan mới có được kết quả thua 2-3 để vượt qua Scotland bằng hiệu số phụ.

Scotland's Graeme Souness (l) and Kenny Dalglish (r) watch as teammate Archie Gemmill (c) looks up to pick his spot before bending in his team's third goal

Sousness (áo tối màu, xa, ngoài cùng bên trái), Kenny Dalglish (phải), Archie Gemmil (số 15, cầm bóng) và các đồng đội đã dạy cho Hà Lan (áo sáng màu) một bài học – Ảnh: whoateallthepie

Nhà báo Brian Glanville khi nhớ lại về thời điểm ấy nói rằng, một đồng nghiệp người Argentina của ông đã mô tả mọi thứ về Hà Lan bấy giờ bằng vài câu ngắn gọn:

[Đội tuyển Hà Lan này] là một cỗ máy tuyệt hảo nhưng thiếu đi người sáng chế ra nó. Người đó, không ai khác, chính là Johan Cruyff.

Sau Scotland, Hà Lan chỉ có 2 ngày để chuẩn bị cho cuộc đối đầu với Áo ở vòng tiếp theo. Những màn kịch bắt đầu xuất hiện tại trại tập trung của đội.

Trợ lí Jan Zwartkruis cáo buộc Ernst Happel đối xử với các cầu thủ “chỉ như cầu thủ bóng đá, không phải như con người”. KNVB chuyển quyền huấn luyện sang cho Zwartkruis, trong khi Happel sẽ vẫn như một người huấn luyện viên trưởng trên danh nghĩa.

Cuộc đảo chính – như cách các cầu thủ và những người trong cuộc gọi – hầu như không được biết tới một cách rộng rãi, cho tới khi Zwartkruis trình làng cuốn tự truyện Kapitein van Oranje vào năm 2008. Mọi thứ đã diễn ra 2 ngày trước khi Hà Lan gặp Áo vào 14/6/1978.

Tại sảnh một khách sạn ở Córdoba, chủ tịch KNVB Wim Meuleman đã trao quyền quản lí đội bóng cho Zwartkruis trước sự chứng kiến của Jacques Hogewoning, Herman Chouffoer và trợ lý huấn luyện viên Arie de Vroet. Đây là hệ quả của những bất đồng đã nảy sinh dần dần trong vòng bảng tại Mendoza, bởi chiến thuật và triết lý của Happel không khiến các cầu thủ nể phục.

Happel, Zwartkruis 1978 - gahetna

Happel (trái) và Zwartkruis, 1978 – Ảnh: gahetna

Zwartkruis, một người nổi tiếng kỉ luật quahoạt động quản lí của mình trong quân đội Hà Lan. Triết lý của ông có phần gần gũi với triết lý của Rinus Michel và đội hình khi ấy. Mặc dù vậy, vượt trên cả yếu tố chiến thuật, cuộc đảo chính dường như là kết quả của những mâu thuẫn cá nhân. Như Zwartkruis nhớ lại:

Tôi luôn trò chuyện với các chàng trai. Còn Happel thì lúc nào cũng đằng đằng giận dữ.

Trước ngày diễn ra trận đấu với Áo, trận đấu đầu tiên của Hà Lan ở vòng bảng thứ hai, Happel đã đứng sang một bên và cho phép Zwartkruis điều phối hoàn toàn buổi tập.

Trong một ngày âm u ở Córdoba, đối đầu với một Áo đã gây bất ngờ trong giai đoạn một khi đứng đầu bảng đấu bao gồm Brazil, Tây Ban Nha và Thụy Điển, chiến thuật và thái độ thay đổi hoàn toàn đã giúp Hà Lan dễ dàng đả bại đối thủ với tỉ số 5-1. Ba bàn thắng trong hiệp một đã giúp Hà Lan dập tắt những tiếng xì xào và đưa trận đấu kết thúc nhanh chóng. Một sự khởi đầu hoàn hảo cho giai đoạn hai.

Trong chương trình nhìn lại trên sóng iTV, Jack Charlton ca ngợi từng pha bóng đáng chú ý một và rên lên vui sướng khi Johnny Rep lập công ở cự ly gần từ quả tạt của Resenbrink, giúp Hà Lan có bàn thứ tư.

Một phần vô cùng tuyệt vời trong lối chơi của họ [Hà Lan]: họ không bỏ phí cơ hội nào từ các góc hẹp.

– Jack Charlton

Trận đấu tái hiện lại chung kết năm 1974 với Tây Đức kết thúc bằng tỉ số 2-2, trong khi lượt đấu cuối cùng với Italy xứng đáng là một trận bán kết. Một cuộc đấu của cơ bắp và không dành cho kẻ yếu tim. Bàn thắng của Ernie Brandts và cú sút từ khoảng cách 40 yard của Arie Haan giúp Hà Lan đi đến trận chung kết với tỉ số chung cuộc là 2-1.

###

Trận chung kết, tổ chức vào ngày 25 tháng 6 tại El Monumental, là một sự kiện mà mãi tới sau này vẫn nổi tiếng thơm. Sự trì hoãn, những ồn ào xung quanh việc Rene van der Kerkhof phải ngồi dự bị, cái lạnh, những pha phạm lỗi, đám đông và cú sút gấp gáp đập cột dọc của Resenbrink trong thời gian thi đấu chính thức. Trò chuyện với David Winner về trận đấu và không khí trên sân cho cuốn sách rất có giá trị “Brilliant Orange”, đội trưởng Ruud Krol nhớ lại:

Tất nhiên chúng tôi đều cảm thấy rằng trọng tài không đừng về phía chúng tôi, hẳn rồi. Ai trên sân cũng biết điều đó. Chúng tôi nói với nhau trong giờ nghỉ giữa trận: ‘Thằng khốn trọng tài – nó đang đá cho Argentina hay sao ấy?’. Đó là một phản ứng thông thường của các cầu thủ mà thôi.

Sự chuẩn bị và hành trình đến sân vận động vào buổi sáng chung kết cũng là những điều các cầu thủ sẽ không bao giờ quên. Krol cho biết:

Chúng tôi ở trong một khách sạn bên ngoài Buenos Aires và họ đưa chúng tôi đi một đường vòng rất dài để đến sân vận động. Xe buýt dừng lại ở một ngôi làng và người dân đập mạnh vào cửa sổ và hét lớn ‘Argentina! Argentina! Argentina!’. Chúng tôi tiến thoái lưỡng nan, tiến không được và lùi cũng không xong. Chúng tôi bị mắc kẹt. Trong 20 phút, chúng tôi phải đứng tại một ngôi làng như thế và vài cầu thủ thực sự sợ hãi vì đám đông cứ đập và đẩy cửa sổ xe buýt ra.

Nếu như may mắn hơn, Hà Lan đã dẫn trước 2-0 ngay trong hiệp một, và hiển nhiên là họ kiểm soát toàn bộ thế trận. Khi tỉ số là 1-1, thời gian chỉ còn vài giây, Robbie Resenbrink tính toán tung một cú từ xa, mặc dù xung quanh bị vây bởi các hậu vệ Argentina. Đó là chữ “Nếu” vĩ đại nhất trong lịch sử bóng đá Hà Lan: nếu bóng chỉ đi chệch sang một inch, cú sút của Resenbrink có thể đã lọt lưới, và Hà Lan đã vô địch. Nhưng đó là “nếu”.

BUENOS AIRES - JUNE 25: Mario Kempes of Argentina celebrates scoring a goal during the FIFA World Cup Finals 1978 Final between Argentina and Holland held on June 25, 1978 at the River Plate Stadium, in Buenos Aires, Argentina. Argentina won the match and cup 3-1 after extra-time. (Photo by Getty Images)

Hà Lan gục ngã trước Mario Kempes và các đồng đội – Ảnh: bp

Như Resenbrink đã tự than thở về chính mình trong một cuộc trò chuyện vài năm sau đó với David Winner:

Đôi khi tôi nghĩ rằng nếu mình đã sút chệch hướng thật xa ra thì sẽ đỡ hơn. Người ta sẽ không hỏi tôi về nó nữa. Đó là một cơ hội lớn, tôi vẫn đau xót vì nó, nhưng quả thực ghi bàn trong pha bóng ấy là bất khả thi.

Người Hà Lan đã nghĩ rằng, giả sử nếu họ vô địch, người trao cúp chiến thắng cho họ sẽ là chủ tịch FIFA Joao Havelange. Nhưng dĩ nhiên, trên thực tế, người trao cúp cho Daniel Passarella – đội trưởng ĐT Argentina khi ấy – chính là Jorge Videla.

Và chắc chắn, nếu Ruud Krol, thay vì Passarella, nhận cúp từ vị tướng Argentina, đó sẽ là một hoàn cảnh ngặt nghèo cho Hà Lan. Có cảm giác rằng họ bớt căng thẳng hơn rất nhiều từ lúc rời sân vận động tới khi bay về Amsterdam. Jan Poorvliet nhớ lại:

Nếu chúng tôi vô địch thì có lẽ không sống nổi mất.

Sau trận đấu, tập thể Hà Lan đã không đến dự buổi tiệc bế mạc giải. Hành động này thường được hiểu là một sự tẩy chay, cố ý làm mất mặt nước chủ nhà. Tuy nhiên, sau trải nghiệm vào buổi sáng trên đường tới sân vận động, các cầu thủ Hà Lan đã thấm thía và không dám nghĩ tới việc một lần nữa đi qua đường phố Buenos Aires để dự lễ. Họ ngủ nghỉ trong tối hôm đó và tới máy bay sáng sớm hôm sau để về nước. Argentina 78 đã kết thúc với họ ngay sau tiếng còi kết thúc trận đấu.

Jan Zwartkruis, người được chỉ định làm giám sát và trợ lý huấn luyện viên trở về Hà Lan trong suy nghĩ rằng ông đã chỉ cách có vài giây, thậm chí vài xen-ti-mét để trở thành một tượng đài bóng đá bất hủ. Còn Ernst Happel đã nhận được những lời khen ngợi vì trở về sau thất bại như một người hùng khi nhiệm kì làm huấn luyện viên trưởng đội tuyển Hà Lan của ông đã kết thúc với huy chương á quân. Trong suốt 30 năm, Zwartkruis đã giữ kín điều này cho đến khi phát hành cuốn tự truyện vào năm 2008.

Jan_Zwartkruis - obstorage

30 năm sau World Cup 1978, Zwartkruis mới tiết lộ sự thật bằng tự truyện – Ảnh: obstorage

Ông nói:

Câu chuyện nên được kể ra. Mọi người thường chỉ nói về Oranje của thế hệ 74 và 88 mà bỏ qua 1978.

Nhiều nhà quan sát cảm thấy rằng, các cầu thủ đã cùng nhau giữ được sức mạnh của Oranje trong suốt Argentina 78, và cả Happel lẫn Zwartkruis cùng tạo nên những thay đổi ấn tượng ở vòng bảng thứ hai. Tuy nhiên quan điểm đó đã bị nhiều thành viên của đội hình năm ấy gạt bỏ. Nhìn lại kì World Cup duy nhất – khi mới chỉ là một người 20 tuổi bị choáng ngợp trước một tập thể gồm Krol, Neeskens, Rep, Resenbrink, Haan và các đồng đội – Piet Wildschut tâm sự:

Tôi nghĩ tôi có thể thay mắt toàn bộ tuyển thủ mà nói rằng, khi tôi nói về người huấn luyện viên [ở World Cup 1978], thì tên ông ấy là Jan Zwartkruis.

BÌNH LUẬN

TÁC GIẢ
Hồng Phú
17 bài viết
“Vô duyên”
Phát bóng lên ^