Từ hockey đến bóng đá: Lịch sử của pressing

bởi Jose Maria Chi Pu ·

Dịch từ bài báo của tác giả Uli Hesse đăng trên tạp chí FourFourTwo số ra tháng 2/2016.

Ai cũng nói về “pressing”, từ những nhà bình luận hay bối rối trên sóng truyền hình đến những gã ba hoa ở quán rượu. Nhưng pressing là gì, hoạt động thế nào và ai là người đầu tiên sử dụng nó?

Tommy Gorman - CHC

Tommy Gorman – Ảnh: CHC

Năm 1934, một huấn luyện viên hockey tên Thomas Patrick Gorman – hay ngắn gọn hơn là Tommy Gorman – nảy ra một ý tưởng. Cho tới thời điểm đó, các đội hockey đều chơi theo một bản năng tự nhiên khi không có bóng: lùi về bảo vệ khung thành trước đợt tấn công của đối phương. Gorman tự hỏi rằng điều gì sẽ xảy nếu làm theo cách ngược lại, khi họ dồn lên và gây sức ép khiến đối phương không thể triển khai tấn công ngay từ những bước đầu tiên?

Gorman chỉ đạo các tiền đạo gây áp lực tối đa lên các cầu thủ đối phương đang triển khai bóng. Một người áp sát cầu thủ giữ bóng ở gần khung thành đối phương, những người khác chặn các ngả chuyền. Gorman cũng yêu cầu các hậu vệ chốt chặn ở khu vực trung lộ để cắt những đường chuyền vội hoặc chặn lại những cầu thủ đối phương nếu viên puck (quả bóng băng bằng cao su) vượt qua được hàng tiền đạo.

Các học trò của Gorman lúng túng vò đầu bứt tai, vì điều đó giống như là tự sát. Nếu một trong số họ không hoàn thành nhiệm vụ, đối thủ sẽ có một khoảng trống lớn trước mặt. Và ngay cả khi ai cũng làm tốt nhiệm vụ của mình, một nhóm hậu vệ khôn ngoan và kĩ thuật hoàn toàn có thể thoát ra khỏi chiếc thòng lọng với một loạt các đường chuyền nhanh gọn.

Chúng ta không hề biết Gorman đã làm thế nào để thuyết phục đội bóng của mình. Có lẽ ông đã nói với họ rằng những cầu thủ khôn ngoan và kĩ thuật không muốn trở thành hậu vệ.

Phải mất một thời gian để đội hockey của ông làm quen với chiến thuật mới. Họ thua bốn trong số năm trận đầu tiên. Nhưng rồi điều gì phải đến đã đến. Đội của Gorman trở thành một cỗ máy.

Chúng tôi dồn ép đối phương đến ngã gục và hủy diệt họ.

– Huấn luyện viên người Canada giải thích.

Ba ngày trước phát biểu ấy, đội hockey của ông giành chức vô địch quốc gia đầu tiên trong lịch sử. Đó là National Hockey League, và đội bóng đang được nói đến là Chicago Blackhawks. Vị HLV đặt tên cho chiến thuật của mình là “forechecking”. Ông nói với các nhà báo rằng:

Forechecking đã vô địch giải đấu. Thay vì lùi về, Blackhawks tiếp tục áp sát, và hệ thống ấy hoạt động tốt hơn tôi kì vọng.

Tám thập kỉ sau, sự cải cách của Gorman ở môn hockey tại Bắc Mỹ được tất cả làng bóng đá Anh nhắc đến, dù không phải với cái tên “forechecking”. Cái mà mọi người nói đến ngày nay được gọi là “pressing”.

Lí do mà chiến thuật này trở nên thịnh hành là khá rõ ràng: Mauricio Pochettino và Jurgen Klopp đang sử dụng nó để tạo ra ảnh hưởng lớn ở Tottenham Hotspur và Liverpool, và họ đều rất thích nói về nó.

Klopp Pochettino - Squawka

Klopp và Pochettino được xem là 2 HLV luôn ưa thích “pressing” – Ảnh: Squawka

Họ đều nói về pressing một cách rất tự nhiên. Trước trận đấu giữa hai đội ở White Hart Lane hồi tháng Mười, Pochettino nói rằng cách pressing của ông khác so với cách mà Klopp từng sử dụng ở Bundesliga với Dortmund. Theo lời vị HLV người Argentina, Klopp sử dụng “một khối [cầu thủ] ở tầm trung”, còn ông thì áp sát tới tận khung thành đối thủ.

Tuy nhiên ở nước Đức, Klopp còn được biết đến với một dạng pressing khác: “gegenpressing”. Vấn đề càng trở nên phức tạp hơn khi nhiều HLV theo trường phái của Klopp ở quê nhà gọi hệ thống của Pochettino không phải là pressing mà là… “forechecking”.

Bạn có thể đồng cảm sự khó hiểu này với Harry Redknapp. Khi được hỏi về xu hướng chiến thuật kể trên, vị HLV 68 tuổi nói:

Tất cả những điều về pressing là vô nghĩa, chẳng có gì mới mẻ cả. Tất cả các đội muốn thành công đều phải thi đấu hết sức mình.

Lập luận của Redknapp cũng có ý đúng. Pressing không chỉ là “bao phủ từng ngọn cỏ”, hầu hết các dạng chiến thuật đều yêu cầu sự di chuyển chủ động và tích cực của các cầu thủ. Và ông cũng càng đúng khi khẳng định không có gì mới ở đây cả.

Trước đây, dù ghi nhận sự hiệu quả của “forechecking” trong môn hockey, các nhà chuyên môn vẫn cho rằng áp dụng thứ gì đó tương tự vào bóng đá là gần như không thể. Bóng đá có nhiều gấp đôi số cầu thủ trên sân, mặt sân dài gấp đôi và rộng gấp ba, nghĩa là người hậu vệ đang bị pressing có quá nhiều lựa chọn (bao gồm cả việc phá bóng qua đầu cầu thủ đối phương đang tiến tới áp sát, điều không thể thực hiện được trong môn khúc côn cầu). Và còn vấn đề thể lực nữa. Gorman có thể cho thay người vài phút một lần, một thứ quyền năng mà các HLV bóng đá không có trong tay.

Phải đến năm 1974, hệ thống forechecking dũng mãnh của Gorman mới được chuyển hóa thành công vào bóng đá đỉnh cao. Những đoạn băng hình tư liệu cho thấy đội Hà Lan huyền thoại của Rinus Michels không bao giờ cho đối phương cơ hội triển khai tấn công từ tuyến dưới, gây áp lực không biết mệt mỏi cho đến khi đối phương buộc phải vội vã thực hiện đường chuyền hoặc một pha phá bóng. Chỉ tiếc là Gorman, người qua đời vào năm 1961, không thể tận mắt chứng kiến điều này.

Phong cách chơi nghẹt thở của tuyển Hà Lan đi vào lịch sử với các tên “totaalvoetbal” (“bóng đá tổng lực”), dù bản thân Michels thích dùng một cụm từ khác.

Tôi muốn mọi người quên đi “totaalvoetbal”, vì đấy không phải cái tôi muốn thể hiện. Với tôi, sẽ là tốt hơn nếu gọi nó là “bóng đá pressing”. Đó mới là thứ tôi muốn tạo ra ở đội Ajax và tuyển Hà Lan năm 1974: một cách chơi cơ bản mà cả 10 cầu thủ trên sân cùng dồn lên ngay cả khi không có bóng. Chúng tôi luôn pressing về phía trước.

– Rinus Michels viết, vài năm sau khi World Cup 1974 ở Tây Đức kết thúc.

Cây viết David Winner, người hiểu rõ bóng đá Hà Lan, từng định nghĩa cách pressing của Michels là “đi săn theo cả nhóm và phòng ngự từ vạch giữa sân trở lên”. Đó là một đoạn mô tả tuyệt vời.

Hai, có khi là ba, cầu thủ Hà Lan áp sát vào người đang giữ bóng. Một trong số đó gây áp lực trực tiếp với cầu thủ đó, những người khác kèm đồng đội của anh ta hoặc chặn bất cứ hướng chuyền khả thi nào. Kẻ không may mắn nào đang giữ bóng khi cơn lốc màu da cam xuất hiện thậm chí còn không thể phá bóng đi. Hàng ngang hậu vệ cuối cùng của Hà Lan luôn đứng sát vạch giữa sân, đồng nghĩa với việc bất cứ cầu thủ đối phương nào xuất hiện ở phần sân Hà Lan đều ở tư thế việt vị.

Holland-pressing-Uruguay - dutchsoccersite

Hà Lan áp sát Uruguay dưới thời Rinus Michels – Ảnh: dutchsoccersite

Vậy thứ bóng đá tốn sức nhưng khôn khéo và nhịp nhàng này từ đâu bỗng nhiên xuất hiện? Hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng Michels không phải là người phát minh ra pressing. Ông đã may mắn ở vào vị trí phù hợp (HLV Ajax, HLV ĐT Hà Lan) để áp dụng lối chơi này từ các phiên bản trước đó. Ông nhờ vào những cầu thủ đa năng, đặc biệt là với một Johan Neeskens cực kì dũng mãnh và cần cù. Chính Michels đã viết:

Để áp dụng lối chơi một cách trọn vẹn bạn cần ít nhất ba hay bốn cầu thủ đẳng cấp hàng đầu thế giới. Ít hơn số này có thể dẫn đến thảm họa.

Hầu hết mọi người cũng đồng ý rằng những hạt giống đầu tiên của bóng đá pressing xuất hiện vào nửa cuối thập niên 60 khi mà nền tảng thể lực nói chung của các cầu thủ được cải thiện.

Như Jonathan Wilson đã từng giải thích trong cuốn sách về lịch sử bóng đá có tên “Inverting the Pyramid”, việc dồn ép cầu thủ đang kiểm soát bóng “đòi hỏi sự di chuyển liên tục của hàng tiền vệ, yêu cầu thể lực siêu việt, thứ mà khó có thể xuất hiện ở thời kỳ trước”.

Tuy nhiên, có sự bất đồng trong việc xác định ai là “Tommy Gorman của bóng đá”. Wilson cho rằng HLV người Nga Victor Maslov là người phát minh ra pressing khi dẫn dắt Dynamo Kiev từ năm 1964 đến năm 1970. Nhiều người khác ở châu Âu lại cho rằng HLV người Áo Ernst Happel là người tiên phong. Năm 1970, ông đưa Feyenoord đến chức vô địch châu  Âu một cách đầy bất ngờ với 2 trụ cột: bẫy việt vị và lối chơi pressing. Tên tuổi Happel gắn liền với chiến thuật này đến nỗi mà khi ông qua đời, một tờ báo Áo viết: “Cái quan tài của ông cũng chặt chẽ hệt như chính cách ông mong muốn trước khi qua đời.”

Viktor Maslov  The Telegraph

Nhà báo Jonathan Wilson cho rằng HLV Victor Maslov (áo sẫm, ngoài cùng bên trái) là một trong những nhân vật tiên phong về pressing trong bóng đá – Ảnh: The Telegraph

Trong khi vẫn còn nhiều tranh luận về việc ai là người áp dụng phiên bản thực tế của “forechecking” trong bóng đá và sau đó gọi tên là “pressing”, chúng ta lại biết khá rõ từ đâu mọi người sử dụng cụm từ đó – một môn thể thao khác của người Mĩ là bóng chày.

Có nhiều hệ thống phòng ngự, tất cả đều được phát triển vào thập niên 50, dựa trên việc gây áp lực với người giữ bóng. Trong bóng chày có pressing nửa sân và pressing cả sân. Trong bóng đá cũng tương tự.

Khi nói đến pressing, đa số mọi người nghĩ đến phiên bản của Michels, áp sát đối phương từ phần sân của họ. Nhưng không chỉ có thế. Peter Hyballa, HLV đội U19 Bayer Leverkusen nói với FourFourTwo:

Bạn có thể chơi pressing ở mọi khu vực trên sân.

Hyballa được coi là chuyên gia trong lĩnh vực này. Năm ngoái, ông nhận lời mời của Hennes Weisweiler Academy – nơi cấp chứng chỉ cho các HLV ở Đức – để thực hiện một bài giảng chủ yếu về pressing.

Nếu bạn áp sát thật cao trên sân, gần sát khung thành đối phương, tôi gọi đó là “forechecking”. Từ đó có thể chia thành pressing tầm cao, tầm trung và tầm thấp.

Ví dụ, khi bạn áp dụng pressing tầm thấp, bạn lùi sâu và chỉ bắt đầu áp sát khi bóng ở gần khu vực cấm địa của bạn. Nhưng quan trọng là bạn phải tiến lên áp sát, nếu không sẽ không gọi là pressing.

Dĩ nhiên, có những cách phòng ngự khác nhau. Bạn có thể khóa chặt các hướng chuyền và để đối phương chuyền qua lại ở tuyến dưới của họ. Nhưng pressing được định nghĩa là một tình huống hay một thời điểm bạn bắt đầu chủ động giành bóng bằng cách áp sát một cách tích cực.

Chốt lại, pressing là cách giành bóng ở chính xác khu vực mà HLV muốn, nhưng một cách chủ động, không chờ đợi đối thủ.

– Peter Hyballa

Các cách gọi khác cho pressing tầm cao, tầm trung và tầm thấp là bắt đầu áp sát đối thủ ở gần khung thành của họ, ở khu vực giữa sân hoặc ở gần khung thành của mình.

Ý của Pochettino khi nói Klopp sử dụng “một khối ở tầm trung” có thể hiểu đơn giản là Dortmund hay Liverpool của Klopp không áp sát ngay từ gần khung thành đối thủ (như Spurs), mà thay vào đó chờ cho đối thủ tiến đến khu vực trung lộ.

Điều này không hoàn toàn đúng. Dortmund chủ yếu áp dụng pressing tầm trung ở Champions League, khi họ đối đầu với các đối thủ thông minh, nhanh và kĩ thuật đủ để thoát khỏi sự áp sát. Dortmund thường pressing cao hơn với các đối thủ yếu ở giải quốc nội.

Nếu pressing đã xuất hiện từ thập niên 1960, tại sao phải tới ngày nay nó mới trở nên phổ biến? Có lẽ lý do chính là những cải thiện lớn về nền tảng thể lực của cầu thủ.

Phiên bản pressing của Michels, như ông đã chỉ ra, cần những cầu thủ chất lượng cao, nên nó gần như không bao giờ được “rập khuôn” một cách rộng rãi.

Rinus Michels Ruud Gullit - volkskrant

Rinus Michels cho rằng để chơi pressing hay, luôn cần 3-4 cầu thủ đẳng cấp thế giới trong đội hình – Ảnh: volksrant

Nhưng vào những năm 1980, HLV Arrigo Sacchi của Milan (từng theo dõi các buổi tập của Happel thời còn ở Hamburg) phổ biến một phương pháp là pressing bằng một khối với cự ly chặt chẽ. Sau này, nó trở thành hình mẫu cho bóng đá hiện đại. Ví dụ, khi bóng được đối thủ đưa sang một cánh, cả đội phòng ngự sẽ áp sát vào cánh đó cùng nhau, giữ nguyên cự ly đội hình chặt thay vì để tâm tới ai đó của đối thủ ở cánh ngược lại.

Việc giữ gìn cự ly đội hình tạo ra một điều kiện lí tưởng cho pressing. Kết quả mà hệ thống của Sacchi tạo ra là khi đội giữ bóng bị dồn vào khu vực hẹp, họ thường xuyên bị áp đảo về quân số. Một khi đội bóng làm chủ được cách phòng ngự này, họ không còn cần ba hay bốn cầu thủ hàng đầu thế giới để chơi pressing.

Một yếu tố quan trọng nữa là sự ra đời của điều luật hạn chế chuyền về năm 1992. Luật này loại bỏ một phương án cho những hậu vệ đang bị áp sát, vì thủ môn sẽ không thể dùng tay bắt những đường chuyền về của họ nữa.

Gần đây, Barcelona của Pep Guardiola – đội bóng giàu ảnh hưởng nhất kể từ thời Milan của Sacchi – đưa pressing lên một tầm cao mới. Quan niệm bóng đá cổ điển vẫn cho rằng các đội bóng dễ bị tổn thương nhất trong vài giây sau khi vừa mất bóng vì khi đó họ cần chuyển trạng thái từ tấn công sang phòng ngự. Lý luận của Guardiola là điều này cũng đúng với các đội bóng vừa giành được bóng, cần chuyển trạng thái từ phòng thủ sang tấn công.

busquets_guardiola-750x500 Squawka

Pep Guardiola là một trong những HLV hàng đầu về “gegenpressing” – Ảnh: Squawka

Đội bóng xứ Catalan hiện thực hóa lý thuyết này và bắt đầu áp sát mạnh mẽ ngay lập tức khi vừa mất bóng – thường ở xung quanh vòng cấm địa đối phương. Họ dập tắt một pha phản công của đối thủ ngay từ khi nó chưa kịp bắt đầu. Phương pháp này được gọi là “gegenpressing” (tiếng Đức).

Trong khi pressing vẫn thường được định nghĩa như một cách phòng ngự – thực hiện bởi đội đang không giữ bóng – cách chơi gegenpress của Barcelona có thể coi như một chiến lược tấn công. Bởi nếu giành lại được bóng, họ thường đã ở ngay một khu vực nguy hiểm. Còn đối thủ khi ấy thì đang chuyển trạng thái từ phòng ngự sang tấn công, tức theo đà hướng về phía trước, đứng ở những vị trí không phù hợp để phòng ngự.

Trên thực tế, nhiều chuyên gia đang nhận định rằng sẽ có những đội bóng… cố tình để mất bóng ở phần sân đối phương, để rồi đoạt lại bằng gegenpressing và tận dụng lợi thế.

Đây cũng là một bí quyết của Klopp, từng giúp ông giành hai chức vô địch Bundesliga năm 2011 và 2012. Tuy nhiên, cách pressing này không thể ngẫu nhiên mà áp dụng được ngay cho một tập thể cầu thủ. Pressing thì dễ dàng hơn, chỉ cần huấn luyện về cự ly đội hình và thời điểm áp sát. Nhưng gegenpressing là một thứ không thể truyền đạt chỉ bằng những lời nói đơn thuần, nó cần được thực hành rất nhiều.

Jurgen+Klopp+Borussia+Dortmund+Training+Press+ Zimbio

“…phải huấn luyện về phản xạ, cho đến khi nó trở thành một hành động bản năng.” – Ảnh: Zimbio

Khi FourFourTwo gặp Klopp tại trại tập huấn mùa đông của Dortmund vào năm 2013, ông nói:

Phải tập luyện cách phản ứng nhanh… để chuyển sang tâm thế của người săn tìm bóng ngay lập tức khi vừa mất bóng. Không thể huấn luyện theo tình huống, mà phải huấn luyện về phản xạ, cho đến khi nó trở thành một hành động bản năng.

Cựu đội trưởng Borussia Dortmund dưới thời Klopp, Sebastian Kehl, người đã giải nghệ mùa hè trước, giải thích:

Trước đây, chúng tôi cần một đồng đội phải ra hiệu để bắt đầu gegenpressing, nhưng qua thời gian thì chúng tôi càng ngày càng cần ít ký hiệu hơn vì ai cũng dần có cảm giác về nó.

Chúng tôi cần một loại cầu thủ nhất định cho lối chơi này. Trận đấu trở nên rất khắc nghiệt, nên chúng tôi sẽ cần những cầu thủ không chỉ có ý thức chiến thuật cao mà phải luôn sẵn sàng chạy và đuổi theo bóng.

Hyballa cũng chia sẻ quan điểm này:

Pressing rất khắc nghiệt. Nó có thể rất điên cuồng và đòi hỏi cầu thủ chạy rất nhiều. Vì thế nên cũng khó thuyết phục các tiền đạo cổ điển làm theo. Họ sẽ nói: “Tôi sẽ chờ trong vòng cấm để ghi bàn chứ chả việc gì phải chạy theo mọi người quanh sân.”

Tuy nhiên, tất cả các dấu hiệu đều cho thấy những kẻ đi ngược dòng như thế sẽ dần biến mất trong tương lai, nghĩa là pressing sẽ tiếp tục tồn tại và biến đổi. Khi Tommy Gorman được hỏi vào năm 1934 rằng liệu các đội khác có học theo “forechecking” không, ông đáp một cách đơn giản:

Họ sẽ phải theo thôi.

BÌNH LUẬN

TÁC GIẢ
4 bài viết
“”
Phát bóng lên ^