Dĩ vãng bóng đá Đông Đức: Một thời đã xa…

bởi Vũ Nguyễn ·

Đông Đức là một phần của lịch sử bóng đá Đức, cũng đã đóng góp dù không nhiều, để đưa bóng đá Đức tới những thành công của ngày hôm nay. Họ hoàn toàn xứng đáng được mọi người nhắc tới.

Ngày 12/9/1990, lượt đấu đầu tiên của vòng loại EURO 1992 diễn ra tại Anderlecht, Bỉ. Đội tuyển Bỉ tiếp đón những vị khách Cộng hòa Dân chủ (CHDC) Đức, hay chúng ta được biết ngắn gọn dưới cái tên Đông Đức. Những vị khách giành thắng lợi 2-0, với cú đúp đến từ ngôi sao duy nhất, và cũng là đội trưởng, Matthias Sammer.

Ảnh: Cafefutbol

Các cầu thủ Đông Đức sau trận đấu cuối cùng của mình – Ảnh: Cafefutbol

Trước đó gần 1 năm, ngày 9/11/1989, Bức tường Berlin đã bị kéo sập. Trong cuộc bầu cử ngày 18/3/1990, Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức vốn đang nắm quyền tại Đông Đức đã mất đi sự ủng hộ của người dân. Trước tình hình đó, ngày 23/8 cùng năm, Quốc hội Đông Đức quyết định lãnh thổ quốc gia này sẽ được đặt dưới hệ thống pháp luật của Cộng hòa Liên bang Đức kể từ ngày 3 tháng 10 năm 1990. Điều đó cũng đánh dấu cột mốc lịch sử, khi nước Đức sẽ được thống nhất.

Việc bốc thăm chia bảng vòng loại EURO 1992 đã được tổ chức từ lâu. Trùng hợp thay, đội tuyển Đông Đức và Tây Đức nằm cùng một bảng đấu. Và trận đấu tại Anderlecht, vài tuần trước ngày 3/10 lịch sử đó, trở thành trận đấu cuối cùng của đội tuyển Đông Đức.

Sau trận đấu, trang sử 39 năm của đội tuyển CHDC Đức khép lại. Một trang sử đầy những điều thú vị. Nếu đặt Đông Đức cạnh người hàng xóm Tây Đức vĩ đại thì quả là khập khiễng, nhưng họ là một phần của lịch sử bóng đá Đức và cũng đã có đóng góp, dù là không nhiều, để đưa bóng đá Đức tới những thành công của ngày hôm nay. Họ hoàn toàn xứng đáng được chúng ta nhớ tới.

Sự ra đời

Sau thế chiến II, nước Đức bại trận. Hiệp ước Potsdam tháng 8 năm 1945 cho phép các bên thắng trận vào chiếm đóng lãnh thổ Đức. Cả nước Đức và thủ đô Berlin bị chia ra làm 4 phần. Người Anh chiếm đóng phần phía Bắc, Hoa Kỳ lấy phần phía Nam, Pháp ở phía Tây và Liên Xô nắm giữ phần phía Đông. Đến năm 1949, nước Cộng hòa Liên bang (CHLB) Đức thành lập trên cơ sở phần lãnh thổ của ba nước Đồng minh. Ở phía Đông, nước CHDC Đức cũng ra đời. Thủ đô Berlin vốn thuộc phía Đông bị chia làm hai nửa bởi Bức tường Berlin.

Tây Đức kế thừa nền bóng đá Đức trước đó. Họ lọt vào trận chung kết World Cup 1954 và giành thắng lợi lịch sử 3-2 trước đội Hungary huyền thoại, dù đã thua 3-8 ở vòng ngoài. Đó chỉ là khởi đầu cho một thời kỳ lịch sử hùng tráng của họ.

Trong ki đó, CHDC Đức có diện tích chưa đến 1/2 và dân số chỉ xấp xỉ 1/3 của CHLB Đức. Bóng đá ở nơi đây không phát triển. Dưới sự kiểm soát của chính quyền Liên Xô, các câu lạc bộ bóng đá tư nhân bị cấm. Mọi người nỗ lực để được chơi bóng. Thành quả được đền đáp khi Liên đoàn Bóng đá Đông Đức được thành lập và nộp đơn xin gia nhập FIFA vào ngày 6/2/1951. Đến ngày 24/7/1952, Đông Đức trở thành thành viên chính thức của FIFA.

Trận đấu đầu tiên của họ là trận giao hữu với những người láng giềng Ba Lan tại Warsaw ngày 21/9/1952. Trận đấu kết thúc với tỷ số 3-0 nghiêng về đội chủ nhà. Gần một năm sau, ngày 14/6/1953, Đông Đức chơi trận đấu đầu tiên trên sân nhà. Trước mặt 55 nghìn cổ động viên có mặt tại sân vận động Heinz-Steyer Stadion ở thành phố Dresden, đội tuyển CHDC Đức đã hòa không bàn thắng với các vị khách đến từ Bulgaria. Theo thống kê, Đông Đức chơi cả thảy 293 trận quốc tế, thắng 138 và thua 86 trận. Trong đó chỉ có vẻn vẹn 6 trận tại đấu trường World Cup, và con số 0 tròn trĩnh ở sân chơi EURO.

Kẻ lỗi hẹn với những giải đấu lớn

Chưa bao giờ Đông Đức được xem là đội bóng yếu trên bình diện châu Âu, nếu có chỉ là vì tầm vóc quá khổng lồ của người hàng xóm ở phía Tây. Nhưng họ hoàn toàn không có duyên với những giải đấu lớn: Cả thảy 8/8 kỳ EURO (từ 1960 đến 1988) và 8/9 kỳ World Cup (từ 1958 đến 1990, trừ năm 1974), đội tuyển CHDC Đức đều không vượt qua được vòng loại. Vì vậy nên không ngẫu nhiên mà mọi người dành tặng cho họ biệt danh “Weltmeister der Freundschaftsspiele” có nghĩa là “Vua của những trận giao hữu”, hoàn toàn trái ngược với “Vua vòng loại” từng thuộc về đội tuyển Tây Ban Nha.

Thú vị thay, giải đấu duy nhất mà họ tham dự là World Cup 1974 lại được tổ chức trên đất Tây Đức. Chúng ta chỉ nhớ tới kỳ “Mundial” đó với sự có mặt lần đầu tiên ngây ngô đến dại khờ của đội tuyển Zaire. Chúng ta chỉ nhớ trận Chung kết huyền diệu giữa Tây Đức với những Franz Beckenbauer, Gerd Mueller, Paul Breitner,… và đội tuyển Hà Lan của Johann Cruyff, Johann Neeskens… Đội chủ nhà lên ngôi vô địch xứng đáng và đó là lần thứ hai người Đức (nói chung) vô địch thế giới. Ít ai biết rằng, giải đấu năm đó, Tây Đức chỉ thua duy nhất 1 trận, và đó là trận thua trước Đông Đức ở vòng bảng đầu tiên!

Ảnh: AFP

Juergen Sparwasser ghi bàn vào lưới Tây Đức năm 1974 – Ảnh: AFP

Đó cũng là lần đầu tiên hai đội gặp nhau, sau 22 năm đội tuyển CHDC Đức ra đời. Juergen Sparwasser ghi bàn thắng duy nhất mang chiến thắng đến cho các vị khách, cả hai cùng dắt tay nhau vào vòng loại thứ hai. Tại đây, Đông Đức nằm cùng bảng với Brazil, Argentina, Hà Lan và sau đó dừng bước. Tây Đức rơi vào bảng nhẹ nhàng hơn, chỉ có Ba Lan, Thụy Điển và Nam Tư. Từ đây, CHLB Đức toàn thắng và tiến thẳng đến cúp vàng Thế giới. Như đã nói ở trên, Đông Đức chỉ chơi 6 trận ở World Cup và đó là 6 trận đấu đáng nhớ nhất của họ, ở lần duy nhất được tận hưởng chút ánh mặt trời.

Đông Đức lẽ ra có thể góp mặt ở World Cup 1990. Nếu thắng Áo ở trận cuối cùng của vòng loại, họ sẽ có lần thứ hai dự World Cup. 4000 cổ động viên đã theo đội tuyển đển Vienna. Cuối cùng, họ thua 0-3 và nói lời tạm biệt với World Cup MÃI MÃI. Đáng nói, khi các cầu thủ ở khách sạn trước trận đấu, Sammer và kể cả Andreas Thom đều bị quấy nhiễu bởi những lời đề nghị từ các tuyển trạch viên đến từ Bundesliga, tức là Tây Đức.

Ảnh: Internet

Matthias Sammer trong trận đấu cuối cùng với Đông Đức – Ảnh: Internet

Sau khi Bức tường Berlin bị phá bỏ, những cầu thủ Đông Đức trở thành một gia tài mà các câu lạc bộ từ Bundesliga thèm khát. Và các cầu thủ trẻ trong trận đấu ấy nhận ra đây là một cơ hội dành cho cả cuộc đời mình. Nếu thể hiện tốt, sự nghiệp họ sẽ sang trang. Tiền tài, danh vọng sẽ đến. Uwe Roesler, cầu thủ khi ấy 21 tuổi cũng khao khát được như thế.

Tôi đang ở khu tập luyện và nó bị vây kín bởi các tuyển trạch viên. Các cầu thủ thì liên tục cầm điện thọai trên tay để nghe ngóng thông tin. Trong khi trận đấu quan trọng phía trước với Áo thì chẳng ai quan tâm.

– Uwe Roesler

Quả penalty của Andreas Brehme ở phút 85 trong trận Chung kết với Argentina tại Roma đã mang cúp vàng Thế giới về với Tây Đức lần thứ ba. Nhưng đây là chiến thắng của cả dân tộc Đức, của cả WessisOssis (người từ phía Tây và phía Đông theo tiếng Đức). Người Đức biết rằng thời khắc thống nhất đã cận kề.

Náo loạn Olympic thập niên 70 và toàn thắng trước những người hàng xóm

Vô duyên với World Cup và EURO là vậy, nhưng xem ra những kỳ Olympic lại mang đến những kỷ niệm ngọt ngào với Đông Đức. Họ dự 3 kỳ Olympic: năm 1972 tại Tây Đức, 1976 tại Canada, và 1980 tại Liên Xô. Riêng năm 1964 không tính tới vì đó là kỳ Olympic mà chỉ có một đoàn thể thao đại diện cho cả Đông Đức và Tây Đức tham dự. Với ba lần tham dự và đội tuyển Đông Đức đã sưu tập trọn bộ Huy chương: 1 Vàng, 1 Bạc, 1 Đồng.

Tại kỳ Olympic năm 1972, Đông Đức và Tây Đức đối đầu lần thứ hai trong lịch sử, và cũng là lần cuối cùng. Lại một lần nữa, Đông Đức chiến thắng ngay tại sân Olympic ở Munich trước 80 nghìn người. Tỷ số là 3-2 và hai cái tên ghi bàn cho Tây Đức đều rất đỗi quen thuộc với chúng ta, Uli Hoeness và Otmar Hitzfeld.

Cần phải nói thêm, cho đến năm 1988 thì bóng đá nam tại Olympic vẫn là sân chơi của các đội tuyển quốc gia. Trước đó, FIFA cũng đã thòng thêm quy định, rằng các đội bóng thuộc hai liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) và Nam Mỹ (CONMEBOL) không được đưa những cầu thủ từng tham gia World Cup đến dự Olympic. Những liên đoàn còn lại thì vẫn được phép để đảm bảo sự cạnh tranh. Như vậy thì đội hình dự Olympic của Tây Đức thiếu vắng những Beckenbauer, Mueller hay Berti Vogts sẽ yếu đi rất nhiều. Thậm chí Hitzfeld còn chẳng được khoác áo Tây Đức thêm lần nào dù ông ghi tận 5 bàn thắng ở kỳ Olympic đó.

West Germany captain Franz Beckenbauer (l) shakes hands with East Germany captain Bernd Brausch (r) before the match, watched by referee Ramon Barreto Ruiz (c)

Bernd Bransch và Franz Beckenbauer bắt tay trước trận đấu lịch sử – Ảnh: Cafefutebol

Còn với Đông Đức, đây chắc chắn là một lợi thế của họ. Và nó cũng lý giải vì sao họ lại thành công đến vậy ở Olympic. Dù kỳ Olympic đó chỉ đoạt Huy chương Đồng nhưng Đông Đức cũng chẳng phải đợi lâu. Bốn năm sau, họ giành Huy chương Vàng sau khi vượt qua Ba Lan với tỷ số 3-1 tại Montreal. Đáng lẽ họ đã bảo vệ thành công chiếc Huy chương Vàng sau đó 4 năm nếu không thất bại trước Tiệp Khắc ở trận Chung kết nhờ bàn thắng duy nhất của Jindrich Svoboda.

Trong khi Tây Đức chỉ có 1 chiếc Huy chương Đồng tại Olympic 1988 thì bộ sưu tập của Đông Đức quả là vô giá với họ. Hơn nữa, sau 2 lần đối đầu được FIFA ghi nhận, Đông Đức toàn thắng. Cả hai trận đấu đó đều diễn ra tại Tây Đức. Đáng lẽ sẽ có cuộc đối đầu thứ ba vào ngày 14/11/1990, vì trận đấu đã được lên lịch từ lâu. Đó sẽ là trận đấu mừng ngày thống nhất…, nhưng rốt cuộc trận đấu đã bị hủy và thay vào đó là trận giao hữu giữa Đức và Áo.

Những ngày cuối cùng

Việc sát nhập đã được biết từ trước, trận đấu cuối cùng giữa CHDC Đức và Bỉ ngày ấy chẳng còn nhiều ý nghĩa. Vô thưởng vô phạt như vậy, nên hầu hết những ngôi sao của đội tuyển Đông Đức đang thi đấu ở Bundesliga lúc bấy giờ như Andreas Thom, Thomas Doll… đều khước từ lệnh triệu tập của HLV Eduard Geyer. Chỉ 14 cầu thủ có mặt, hầu hết còn rất trẻ, non nớt, cùng với Matthias Sammer.

Tôi chỉ muốn gặp họ để nói lời tạm biệt, để ngồi uống với nhau vài cốc bia. Nhưng chẳng ai muốn tới.

– Eduard Geyer

Nhưng, Uwe Roesler lúc đó vẫn đang thi đấu ở Đông Đức lại nghĩ rằng đó lại là cơ hội lớn cho mình thể hiện.

Tôi nhớ là chỉ có khoảng 10 người trong ngày đầu tập trung. Huấn luyện viên và ban lãnh đạo dùng điện thoại cả ngày. Cứ mỗi giờ tôi lại nghe họ nói rằng người này sẽ không đến, người kia sẽ không đến.

Ảnh: Telegraph

Uwe Roesler trong màu áo Manchester City – Ảnh: Telegraph

Tổng kết lại, 22 cầu thủ đã từ chối không đến. Vài người việc lý do mình bị chấn thương. Bốn người không còn động lực cống hiến. Một người không có hộ chiếu, và phần còn lại không còn tự xem mình là một Ossis nữa.

Sammer, lúc đó đang chơi cho VfB Stuttgart, đến và nhận ra chẳng có tên tuổi nào đến tập trung cả. Anh định quay về Stuttgart, nhưng nhận ra chẳng có chuyến bay nào cất cánh chiều hôm đó cả.

HLV Geyer ôm lấy chàng cầu thủ 23 tuổi. Ông ấy cần Sammer làm chỗ dựa cho những cầu thủ trẻ. Cuối cùng, người đàn ông ấy quyết định ở lại.

Cái cách anh ấy thi đấu thật đáng kinh ngạc. Matthias đúng là một đội trưởng đích thực

– Roesler nói về Sammer.

Tôi mừng là không có chuyến bay nào cả. Trong tình thế bắt buộc đó, tôi chợt nhận ra mình cần phải ở lại.

– Matthias Sammer

Chúng tôi không xem đó là một trận giao hữu. Chúng tôi quyết tâm trong từng pha cản phá, kèm người hay tắc bóng. Trận đấu mang rất nhiều ý nghĩa với chúng tôi. Có điều đáng tiếc là tôi đã không giữ lại chiếc áo thi đấu hôm đó của mình. Tôi đã đổi với một cầu thủ Bỉ.

–  Roesler nhớ lại.

Tiếc cho Roesler là ông không đạt được khát khao của mình. Ông không được đội tuyển Đức đoái hoài dù có một khoảng thời gian thi đấu khá thành công ở Anh.

Còn thủ môn Jens Adler trở thành người cuối cùng khoác áo Đông Đức. Anh được đưa vào sân ở những khoảnh khắc cuối cùng. Anh đã tỏ ra rất hồi hộp, dù đến hết trận vẫn không chạm được quả bóng một lần nào.

EURO 1992: Giải đấu đầu tiên của sự thống nhất

EURO 1992 chứng kiến câu chuyện thần kỳ của đội tuyển Đan Mạch, sau khi đánh bại đội tuyển Đức ở trận Chung kết. Trước đó, chế độ Xã hội Chủ nghĩa sụp đổ ở Liên Xô năm 1991. Để đủ điều kiện dự EURO, Liên Xô cũ buộc phải lập một đội tuyển mới. Đội tuyển Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) ra đời, tham dự EURO 1992 tại Thụy Điển. Sau khi giải đấu này kết thúc, CIS tự động giải tán.

Nếu như ở trận giao hữu đầu tiên của tuyển Đức thống nhất, chỉ có Matthias Sammer đồng ý nhận lệnh triệu tập, thì ở giải đấu lần này, HLV Berti Vogts mang theo ba cái tên từng thi đấu cho Đông Đức, đó là Sammer, Thom và Thomas Doll. Ở vòng bảng, Doll đá chính trận gặp CIS, Sammer ra sân trận gặp Scotland. Hai cái tên trên đều vào sân thay người trong trận thua Hà Lan ở lượt cuối.

Ảnh: Shaun Botterill /Allsport

Matthias Sammer tại EURO 1992 – Ảnh: Shaun Botterill /Allsport

Đan Mạch ban đầu không vượt qua vòng loại, nhưng sự vắng mặt của Nam Tư đã thay đổi tất cả. Những chú lính chì được chọn thay thế, và phần còn lại là lịch sử. Từ chỗ chót bảng, họ thắng Pháp ở lượt cuối. Vào bán kết, họ đá bay Hà Lan sau loạt penalty, tiến thẳng đến chức vô địch đầu tiên và duy nhất trong lịch sử. Andreas Thom vào sân ở phút 80 trong trận Chung kết khi tỷ số đã là 2-0. Lúc đó, cả ba cầu thủ Đông Đức cùng có mặt trên sân, nhưng họ không giúp gì được người Đức trước sự thăng hoa tuyệt vời của đối thủ.

Kỳ EURO ấy là cột mốc đánh dấu một xu hướng mới trong bóng đá: Sơ đồ 4 hậu vệ. Đan Mạch sử dụng sơ đồ này và làm tê liệt hoàn toàn hệ thống phòng ngự 5 hậu vệ, với một “sweeper” của người Đức.

Di sản của bóng đá CHDC Đức ngày nay

Như đã biết, dưới sự quản lý của chính quyền Liên bang Xô Viết, các câu lạc bộ tư nhân không được phép hoạt động. Bóng đá Đông Đức thời điểm đó chỉ có 4 loại câu lạc bộ:

  • Dynamos: liên quan tới cảnh sát ngầm. Những câu lạc bộ như Dynamo Berlin, Dynamo Dresden đều chịu sự quản lý của Stasi (Bộ An ninh quốc gia).
  • Vorwarts (Tiến lên phía trước): đặc dưới sự quản lý của Bộ Quốc phòng.
  • Những câu lạc bộ kiểu cũ và không kiên quan đến tổ chức bí mật nào như FC Carl Zeiss Jena hay FC Magdeburg.
  • Các đội bóng công nhân: Rotation Babelsberg, Turbine Potsdam hay Traktor Gross-Lindau.

Ngày nay, bóng đá của “người Đông Đức” ngày càng thụt lùi. Nhìn tổng thể 36 đội chơi ở hai hạng đấu cao nhất của nước Đức, chỉ có 1 cái tên duy nhất từng chơi ở giải VĐQG Đông Đức là FC Union Berlin (Bundesliga 2). Những cái tên nổi danh một thời như Dynamo Dresden, FC Carl Zeiss Jena, Hansa Rostock, Energie Cottbus đều đang phải lặn ngụp ở hạng ba, hạng tư. FC Magdeburg, đội đã bóng hạ gục AC Milan trong trận Chung kết European Cup-winners Cup (tiền thân của UEFA) cũng đang thi đấu ở hạng Ba.

Ngoài 3 cái tên dự EURO 1992, chỉ còn 5 người từng khoác áo Đông Đức và tuyển Đức sau khi thống nhất, là Ulf Kirsten, Dariusz Wosz, Olaf Marschall, Heiko Scholz và Dirk Schuster. Số lượng các cầu thủ sinh ở Đông Đức lên tuyển ngày càng ít. World Cup 2002 là 7 người. 4 năm sau ở kỳ World Cup trên sân nhà chỉ còn 4 người: Michael Ballack, Bernd Schneider, Tim Borowski và Robert Huth. Đến kỳ World Cup 2014 mà Đức lên ngôi Thế giới lần thứ tư, chỉ có một mình Toni Kroos là sinh ra ở Đông Đức.

Ảnh: Bild

Ảnh: Bild

Kroos, Marcel Schmelzer (Borussia Dortmund), và Réne Adler (Hamburger SV) là ba cái tên thường xuyên được gọi lên tuyển khoảng vài năm gần đây. Cả ba thậm chí đều đã rời những đội bóng quê hương khi vẫn còn ở tuổi teen.

Bờ Đông nước Đức từng có một thế hệ trẻ với những Robert Enke, Jens Jeremies, Carsten Jancker, Marko Rehmer, Thomas Linke trở thành niềm hy vọng cho bóng đá Đức. Nhưng rồi chẳng ai có thể vươn lên thành cầu thủ lớn, thậm chí có người còn phải tự tử vì trầm cảm.

Những Ralf Faehrmann (Schalke 04), Tony Jantschke (Borussia Moenchengladbach), Nils Petersen (SC Freiburg) từng một thời được xem là những cái tên đầy triển vọng. Nhưng giờ đây, ở độ tuổi đẹp nhất của đời cầu thủ, họ vẫn chưa một lần (và chắc sẽ mãi không bao giờ) lên tuyển. Con đường của những Matthias Sammer, Michael Ballack ngày xưa và giờ đây là Toni Kroos vẫn chưa có ai tiếp nối.

Ảnh: Bild

Ảnh: Bild

EURO 2016 tới đây, gần như chắc chắn lại chỉ có Toni Kroos góp mặt. Đông Đức đã biến mất khỏi bản đồ thế giới 25 năm, khoảng thời gian đủ dài cho một thế hệ sinh ra và lớn lên. Và có lẽ sẽ chẳng ai còn nhớ tới họ nữa. Một thời huy hoàng đã xa mất rồi!

Vũ Nguyễn

BÌNH LUẬN

TÁC GIẢ
Vũ Nguyễn
121 bài viết
“Stay hungry, stay foolish!”
Phát bóng lên ^