Kiệt tác của Capello

bởi Tùng Trần ·

Xuyên suốt lịch sử bóng đá. đã từng có không ít thời điểm mà các đội bóng và HLV đến từ Italy bị “cáo buộc” đá xấu và phòng ngự thụ động. Nhưng ở một số trường hơp khác, định kiến nói trên lại hoàn toàn chính xác – AC Milan ở mùa giải 1994 là một ví dụ điển hình. Đoàn quân của HLV Capello lên ngôi vô địch sau khi ghi 36 bàn thắng và để thủng lưới vỏn vẹn 15 bàn. Milan có thành tích ghi bàn kém 10 trong số 18 đội tham dự Serie A năm đó. Họ thắng 9 trận với tỉ số 1-0 và giữ sạch lưới 22 trận. Họ có mạch giữ sạch lưới 9 trận liên tiếp và giúp Sebastiano Rossi có 999 phút không để lọt lưới bàn thua nào – một kỉ lục kéo dài trong vòng 22 năm. Thành tích phòng ngự của Milan đã khiến LĐBĐ Italy phải tìm cách khuyến khích bóng đá tấn công bằng việc trao 3 điểm cho mỗi trận thắng bắt đầu từ mùa giải tiếp theo.

Ở phía sau cánh gà, Fabio Capello luôn tập trung một cách đầy cao độ. Ông thường xuyên xô xát với các cầu thủ, đòi hỏi tất cả mọi thứ phải hoàn hảo, và hiếm khi đưa ra lời giải thích. “Bạn được giao một danh sách các nhiệm vụ, và nếu bạn không thể hoàn thành chúng, ông ấy sẽ tìm được một người có thể. Không có thứ gọi là cảm xúc riêng tư gì cả”, Brian Laudrup nhớ lại. Roberto Donadoni thì so sánh Capello với một cai ngục hoàn hảo, còn Jean-Pierre Papin thì nói như thế này về chiến thuật của Capello: “Nếu bạn nghĩ hệ thống của Capello trông nhàm chán từ trên khán đài thì việc chơi ở trong hệ thống ấy còn tệ gấp nhiều lần.”

Capello chẳng hề quan tâm với những điều đó. Mục tiêu duy nhất của ông là danh hiệu Scudetto thứ ba liên tiếp ở năm thứ ba dẫn dắt Milan. Số bàn thua trung bình của Milan năm đó đạt 0.441/trận, và chỉ có 4 đội bóng khác tại các giải đấu hàng đầu của châu Âu có thành tích tốt hơn: Milan của Nereo Rocco ở mùa 1968/69 (0.400), Chelsea của Jose Mourinho mùa 2004/05 (0.395), Liverpool của Bob Paisley ở mùa 1978/79 (0.381) và Cagliari ở mùa 1969/70 (0.367) – đội bóng chỉ để lọt lưới 11 bàn trong 37 trận đấu (Điều này cũng đồng nghĩa với việc hai trong số năm kỉ lục phòng ngự nói trên cùng diễn ra chỉ trong vòng hai năm tại Ý). Sau này Capello có phủ nhận việc Milan chơi phòng ngự một cách thái quá, song sự chắc chắn của bộ tứ hậu vệ năm ấy chắc hẳn đã khiến ông hài lòng; bởi cả Grande Inter của người thấy Helenio Herrera cũng không có thành tích tốt như Milan của Capello.

Nguồn cảm hứng cho chiến thuật phòng ngự của Capello không phải đến một cách ngẫu nhiên. Khi còn là cầu thủ, Capello từng tận mắt chứng kiến đỉnh cao của nghệ thuật phòng ngự. Thi đấu ở vị trí tiền vệ phòng ngự, Capello khởi nghiệp tại Spal trước khi chuyển tới Roma năm 1967, một năm trước khi HLV Herrera lên nắm quyền tại đây. Il Mago trở thành người mà Capello ngưỡng mộ nhất tại đội bóng, bởi theo Capello thì vị chiến lược gia người Ý đi trước thời đại tới 10 năm.

Ông ấy dạy tôi rất nhiều thứ, và nói về khía cạnh chiến thuật thì tôi tiến bộ rất nhiều dưới sự chỉ dạy của Herrera. Ông ấy luôn biết cách động viên mọi người. Câu nói cửa miệng của ông ấy là ‘Hãy tập luyện như cái cách mà các anh chơi bóng’. Vào mỗi buổi sáng trước khi trận đấu diễn ra, ông ấy sẽ túm áo từng người và hét vào mặt họ rằng ‘Cậu là người mạnh mẽ nhất! Cậu sẽ ăn thịt họ thay cho bữa sáng!’ Và ở các buổi tập, nếu như ai đó lười chạy hoặc đứng im, ông ấy sẵn sàng đuổi họ hỏi sân tập.

Capello khi còn thi đấu cho AC Milan (Ảnh: Getty Images)

Capello khi còn thi đấu cho AC Milan (Ảnh: Getty Images)

Năm 1970, Capello gia nhập Juventus, đội bóng được dẫn dắt bởi Armando Picchi, ngôi sao ở hàng thủ tại Inter của Herrera. Đáng tiếc là Picchi đột ngột qua đời vì một căn bệnh hiếm ở cột sống, và Čestmír Vycpálek, chú ruột của Zdeněk Zeman, được bổ nhiệm vào vị trí HLV trưởng. Juventus giành cú đúp Serie A vào các năm 1972 và 1973, trước khi lên ngôi một lần nữa vào năm 1975. Capello rời Juventus để chuyển tới Milan vào năm 1976, và sớm được làm việc cùng Nereo Rocco, kiến trúc sư của thế hệ vàng Milan ở thập niên 60 – điều này cũng đồng nghĩa với việc Capello có vinh dự được làm việc cùng hai bậc thầy của catenanccio.

Trước khi giải nghệ năm 1980, Capello còn có thời gian thi đấu dưới sự dẫn dắt của Niels Liedholm, người có ảnh hưởng không hề nhỏ tới một cựu tiền vệ khác của Roma: Carlo Ancelotti. Capello kể: “Mỗi khi có vấn đề gì, ông ấy [Liedholm] thường tìm cách giải quyết nhẹ nhàng nhất. Các buổi tập luôn nặng về kĩ thuật, kĩ thuật, kĩ thuật… Giống cách mà Ancelotti làm bây giờ.”

Khó có thể nói được những gì mà Capello và Ancelotti học được từ những người thầy cũ, song có một sự tiếp nối song song giữa phong cách của Ancelotti và Liedholm, cũng như giữa Capello và Herrera. Tại Milan, Silvio Berlusconi đã có cơ hội nhận ra người mà Capello có nhiều điểm chung nhất. Theo FourFourTwo, khi được chủ tịch của Milan đề nghị cười nhiều hơn khi chỉ đạo trên đường pitch, Capello trả lời: “Khi đang làm việc thì tôi sẽ không mang lại thứ gì khác ngoài các kết quả.”

Năm đầu tiên khi Silvio Berlusconi trở thành chủ tịch đội bóng, Liedholm tiếp tục nắm quyền chỉ đạo, còn Capello được đôn lên làm trợ lý HLV. Mùa giải đó Milan thi đấu vô cùng bết bát, và giọt nước làm tràn ly đến ở trận thua tại Coppa Italia trước Parma của Arrigo Sacchi (Parma lúc ấy còn đang đá tại Serie B). Liedholm bị sa thải và Capello trở thành HLV tạm quyền. Nhà cầm quân trẻ ngay lập tức cho thấy mình không phải là người dễ bị bắt nạt: Ở một trận đấu, ông tung Guiseppe Galderisi vào sân sau giờ nghỉ giữa hai hiệp, và thay anh này ra chỉ đúng… 14 phút sau đó.

Ở cuối mùa giải năm ấy, Capello giúp Milan có được một suất dự UEFA Cup, song chừng đó là chưa đủ để thuyết phục Berlusconi. Ông trùm truyền thông bị mê hoặc bởi Parma, và muốn có được Sacchi tại sân San Siro. Anh bán giày ngày nào trở thành thuyền trưởng tại AC Milan, và mang lại một cuộc cách mạng bóng đá bằng sơ đồ 4-4-2 kết hợp với việc kèm người theo khu vực – các học trò của ông được rèn luyện nhuần nhuyễn chiến thuật này bằng các bài tập định hướng vị trí thông qua việc thi đấu với 11 đối thủ giả tưởng. Các bản hợp đồng mới như Marco Van Basten, Ruud Gullit và Carlo Ancelotti cũng nhanh chóng hòa nhập với đội bóng và giúp Milan giành Scudetto sau màn sảy chân của Napoli và Diego Maradona. Frank Rijkaard cũng sớm gia nhập đội chủ sân San Siro, và Milan nhanh chóng giành chức vô địch châu Âu.

Capello khi đó đã lui về hậu trường: thay vì trở lại với công việc huấn luyện đội trẻ Milan, ông được gửi đi học khóa học kéo dài một năm và trui rèn khả năng huấn luyện của mình. Khi trở lại, Capello được bổ nhiệm làm giám đốc của Polisportiva Milan – cơ quan giám sát đội bóng rổ, hockey trên băng, bóng chuyền và rugby của Milan. Capello nắm giữ chức vụ này trong ba năm và thực hiện hầu hết mọi thứ, từ tài chính, marketing với quản lý nhân lực.

Năm 1991, Berlusconi sa thải Arrigo Sacchi và Fabio Capello là người được chọn vào chiếc ghế nóng tại sân San Siro. Capello có trong tay bộ ba người Hà Lan (Marco Van Basten, Ruud Gullit và Frank Rijkaard), cùng với đó là một hàng phòng ngự chắc chắn nhất trong lịch sử đội bóng. Bộ tứ hậu vệ năm đó không chỉ hiểu rõ lẫn nhau, mà còn nắm được truyền thống cũng như lối chơi của đội bóng. Mauro Tassotti gia nhập từ Lazio vào năm 1980, trong khi Paolo Maldini, Alessandro Costacurta và Franco Baresi chơi bóng cùng nhau từ thập kỉ 70 ở Milanello. Capello cũng đã nhẵn mặt với ba trong số bốn cái tên kể trên: ông chơi bóng cùng Baresi, và dẫn dắt Maldini cũng như Costacurta ở đội trẻ.

Từ trái qua phải: Maldini, Rijkaard, Tassotti, Baresi, Costacurta (Ảnh: TifoMilan)

Từ trái qua phải: Maldini, Rijkaard, Tassotti, Baresi, Costacurta (Ảnh: TifoMilan)

Hàng thủ của Milan khi đó cũng có những mối liên hệ cực kì đặc biệt với vinh quang trong quá khứ. Maldini là con trai của Cesare, hậu vệ từng cùng Milan giành bốn Scudetti và một Cúp châu Âu vào những năm 50 và 60. Cesare từng thi đấu và làm trợ lý huấn luyện viên cho Rocco, và sau này ông cũng trở thành một HLV chuyên về catenaccio cùng với Milan và ĐTQG Italy tại World Cup 1998. Đặc biệt hơn nữa, Cesare và Rocco là đồng hương đến từ Trieste, một thị trấn ven biển vùng đông bắc nước Ý, còn Capello sinh ra tại Canzian d’Isonzo, cách Trieste 30 phút đi xe về phía bắc. Nói cách khác, ba tượng đài của nghệ thuật phòng ngự tại Milan đều đến từ cùng một miền quê của đất nước hình chiếc ủng.

Một lợi thế nữa cho Capello khi kế thừa bộ tứ hậu vệ này là việc họ đã được trui rèn một cách cẩn thận nhờ Arrigo Sacchi, người bị ám ảnh về chiến thuật với mức từng nói mơ khi ngủ. Maldini kể lại:

Các buổi tập thường khá là điên rồ. Ông ấy sẽ bắt bạn lặp đi lặp lại các bài tập, nhất là với các hậu vệ. Nhưng nếu tôi, Baresi, Costacurta và Tassotti gặp lại nhau vào lúc này, chúng tôi vẫn có thể phòng ngự giống cách chúng tôi làm ở những năm 90. Nó in đậm mãi mãi trong tâm trí bạn.

Milan có khởi đầu không thể tốt hơn dưới sự dẫn dắt của Capello. Thi đấu với sơ đồ 4-4-2, họ ghi tới 74 bàn thắng tại Serie A – nhiều hơn 18 bàn so với đội có thành tích tốt thứ nhì, và lên ngôi vô địch mà không để thua một trận đấu nào. Ở mùa giải sau đó, Milan bổ sung vào đội hình những cái tên như Gianluigi Lentini (bản hợp đồng kỉ lục của đội bóng lúc đó), Jean-Pierre Papin (chủ nhân của Quả bóng Vàng năm 1992), và Dejan Savićević, người từng giúp Red Star Belgrade vô địch châu Âu năm 1991. Đội hình Milan năm đó mạnh tới mức năm trong số sáu cầu thủ từng giành Quả bóng Vàng gần nhất cùng tụ hội tại San Siro: Gullit (1987), Papin (1991), Van Basten (1988, 1989, 1992).

Ảnh: PictureNew

Bộ ba Hà Lan của Milna (Ảnh: PictureNew)

Những bản hợp đồng bom tấn giúp cho Capello không phải quá lo lắng về hàng công. Vấn đề mà ông gặp phải là việc chỉ có thể được sử dụng ba cầu thủ ngoại quốc trên sân ở cùng một thời điểm – điều này ảnh hưởng không nhỏ tới bộ ba người Hà Lan cũng như Papin, Boban và Savićević. Sự hiện diện của các tài năng trên hàng công giúp Milan có được 65 bàn thắng ở mùa giải 1992/93, song hàng thủ lại khiến Capello đau đầu. Dù rằng ông đã yêu cầu hai tiền vệ trung tâm là Rijkaard và Albertini đá lùi sâu, Milan vẫn để thủng lưới tới 32 bàn. Đội chủ sân San Siro giữ lại chức vô địch Serie A năm đó, song không duy trì được thành tích bất bại khi để thua hai trận: một trong số đó là trận thua trước Parma khiến cho mạch 58 trận thắng liên tiếp bị cắt đứt.

Hàng thủ cũng không phải mối lo ngại duy nhất của Capello. Một năm trước đó, không ai có thể ngăn cản phong độ ghi bàn của Van Basten khi mà chân sút người Hà Lan hồi phục chấn thương mắt cá và ghi tới 25 bàn thắng để đoạt danh hiêu Vua Phá lưới. Nhưng giờ đây chấn thương mắt cá của tiền đạo này tái phát và khiến Van Basten vài ngồi ngoài hàng tháng, điều này ảnh hưởng không nhỏ tới cơ hội tại cúp châu Âu (giờ đã đổi tên thành Champions League) của Milan. Trận chung kết năm ấy là cuộc đối đầu giữa Milan và Marseille, đội bóng dù đã bán Papin nhưng vẫn còn những cái tên sáng giá khác như  Fabien Barthez, Jocelyn Angloma, Marcel Desailly, Didier Deschamps, Rudi Völler, và Alen Bokšić. Milan không có cách nào khác ngoài việc dồn hết lực lượng cho trận đấu này, và điều đó đồng nghĩa với việc một Van Basten không có thể trạng tốt nhất vẫn được điền vào đội hình xuất phát. Chân sút người Hà Lan chiến đấu cho tới phút 86, trước khi được thay ra, và ngậm ngùi nhìn đội nhà nhận thất bại 0-1 trước Marseille.

Bước sang mùa giải 1993/94, Capello đang chuẩn bị cho chiến dịch vô địch Serie A năm thứ ba liên tiếp. Milan đón Brian Laudrup, Christian Panucci và Florin Răducioiu; còn ở chiều ngược lại, Rijkaard bị bán sang Ajax, còn Gullit được đem cho Sampdoria mượn. Capello có lẽ đã quá tự tin hàng tiền đạo hiện có ở Milan khi đưa ra quyết định cho mượn Gullit, nhưng những khó khăn ngay lập tức ập tới với nhà ĐKVĐ Serie A. Papin và Van Basten dính chấn thương liên miên – và nhà cầm quân người Ý lúc đó chỉ còn trong tay một tiền đạo duy nhất, Daniele Massaro, người ghi được vỏn vẹn 5 bàn thắng ở mùa giải trước. Hiệu suất ghi bàn đó chắc chắn sẽ không giúp đội bóng bảo vệ được Scudetto – trừ khi hàng phòng ngự làm thật tốt phần việc của họ. Milan khởi đầu mùa giải bằng chiến thắng 1-0 trước Torino ở Siêu Cúp Italia, trước khi vượt qua FC Aarau 1-0 và đè bẹp FC Copenhagen 7-0 ở vòng loại Champions League. Còn ở Serie A, Milan khởi đầu với 5 trận thắng và 2 trận hòa (1-0, 1-0, 0-0, 2-0, 2-0, 2-0, 0-0), trước khi hòa 1-1 hai trận liên tiếp trước Foggia và Juventus, và nhận trận thua ngược 2-3 trước Sampdoria, với bàn thắng ấn định tỉ số được ghi bởi… Gullit.

Tệ hơn nữa, Zvonimir Boban gặp phải chấn thương và điều này khiến tuyến giữa của Milan trở nên mong manh hơn bao giờ hết. Khi thị trường chuyển nhượng chỉ còn hai ngày trước khi đóng cửa, Capello bàn chuyện với Adriano Galliani, và giám đốc điều hành của Milan nhấc máy gọi tới Marseille. Hai bên thống nhất mức phí cho Marcel Desailly và trung vệ người Pháp nhanh chóng lên đường tới San Siro. Nhiều năm sau, khi được FourFourTwo hỏi về cách mà các đồng đội mới tại Milan chào đón mình, Desailly kể: “Khá ổn, dù rằng nhiều cầu thủ tự hỏi rằng tôi đang làm cái quái gì ở đây. Nhiều lúc tôi cũng phải tự hỏi mình câu hỏi đó…”

Marcel Desailly trong màu áo AC Milan (Ảnh: Pinterest)

Marcel Desailly trong màu áo AC Milan (Ảnh: Pinterest)

Nhưng Capello thì biết rõ Desailly phải làm gì. Thay vì để Desailly thi đấu ở hàng thủ, ông đặt cầu thủ người Pháp vào trung tuyến để thay thế cho Boban. Desailly sẽ đá tiền vệ phòng ngự và đảm nhiệm việc thu hồi bóng, trong khi một tiền đạo sẽ đá lùi sâu, khiến sơ đồ 4-4-2 trở thành 4-1-4-1. Đây là một sự thay đổi thú vị tại Serie A lúc đó, và cũng là một thay đổi đi ngược lại với triết lý của Sacchi: Milan trước đó thi đấu tự do và phóng khoáng, nhưng việc để một trung vệ đá ở giữa sân cho thấy một phong cách cứng rắn hơn. Không vấn đề gì, bởi Capello chỉ quan tâm đến một điều duy nhất, đó là giành chiến thắng. Ông cần một người có thể hỗ trợ cho hàng thủ, và với Desailly ông có một cầu thủ thu hồi bóng để bảo vệ cho Baresi và Costacurta. HLV Silvano Ramaccioni nhớ lại:

Cậu ấy [Desailly] không được chỉ đạo cụ thể gì cả, nhiệm vụ duy nhất của cậu ấy là lấy lại bóng. Kể cả khi không lấy được bóng, cậu ấy cũng vẫn đóng góp bằng cách khác. Đối phương luôn phải né tránh cậu ấy trong các đợt lên bóng. Các hậu vệ của chúng tôi có thể ngủ ngon vào mỗi đêm cũng là nhờ vào Desailly cả.

Desailly đã giúp thay đổi bộ mặt của Milan. Ở vòng bảng Champions League, khi được xếp chung với Porto, Werder Bremen và Anderlecht, Milan giành ngôi đầu bảng với hai trận thắng, bốn trận hòa và chỉ phải nhận hai bàn thua. Còn tại Serie A, họ đánh bại Reggiana 1-0 để khởi đầu chuỗi 9 trận giữ sạch lưới – một kỉ lục được kéo dài cho tới tháng 3/2016 trước khi bị khi Gigi Buffon và Juventus phá vỡ. Người có vai trò lớn nhất trong hàng thủ Milan năm đó có lẽ là Baresi, người nhận được không ít lời khen ngợi từ các đồng đội. “Cách anh ấy chỉ đạo hàng thủ, thật là tuyệt vời. Nghệ thuật phòng ngự được nâng lên một tầm cao mới nhờ vào Baresi”, Desailly trả lời FourFourTwo. Gullit thì nói: “Baresi không phải cầu thủ cao nhất, nhưng anh ấy bù đắp điều đó bằng sự phán đoán thiên tài. Nhiều lúc anh ấy biết các tiền đạo sẽ đi bóng về hướng nào trước khi họ tự biết điều đó. Làm thế quái nào để vượt qua một cầu thủ như vậy chứ?”

Tuy vậy phong độ của Milan chùng xuống vào cuối năm 1993 và đầu năm 1994: họ bị loại khỏi Coppa Italia sau thất bại trước Piacenza vào tháng 11, và để thua trước Parma sau hiệp phụ tại Siêu Cúp châu Âu tháng 2 năm sau. Thành tích tại Serie A cũng không khá hơn: sau 9 chiến thắng liên tiếp từ vòng 20 đến 28, Milan hòa 5 và thua 2 ở 7 vòng tiếp theo. Vào những lúc khó khăn như vậy, Capello không có thời gian cho những trò đùa hoặc những lời ca thán. Panucci nhớ lại: “Ông ấy là một người rất nghiêm khắc, kiệm lời và ít khi cười trong suốt những năm làm việc cùng nhau tại Milan”. Desailly đồng ý với người đồng đội cũ: “Khi ông ấy đứng ở đường biên và xem chúng tôi luyện tập, bạn có thể thấy được ánh mắt chằm chằm của Capello. Ông ấy biết cách đặt áp lực lên vai bạn”. Boban trả lời BBC: “Khi bạn có xô xát với Capello, rất khó để nói rằng ông ấy thực sự đang bực mình hay ông ấy muốn xem phản ứng của bạn như thế nào. Bời ngày hôm sau mọi thứ lại bình thường trở lại.”

Capello cũng chẳng tốn thời gian xin lỗi các cầu thủ nếu như họ có va chạm với ông trên sân tập: “Các anh có thể đùa cợt, đồng ý, nhưng khi cần phải làm việc nghiêm túc, các anh cần phải nghiêm túc. Điều tôi muốn ở các cầu thủ là việc họ tập luyện đều đặn, lắng nghe và thực hiện những chỉ đạo của tôi”. Và phần đông các cầu thủ thực hiện được điều này. Milan tiến về đích và giành hat-trick Serie A đầu tiên kể từ Il Grande Torino ở thập niên 40. Nếu như Capello không đá phòng ngự, việc thiếu vắng một tiền đạo đẳng cấp ở tuyến trên sẽ khiến đội bóng khó lòng bảo vệ được ngôi vương.

Chúng tôi có một hàng thủ xuất sắc và ở mùa giải 1993/94, nó là nhân tố quyết định trong cuộc đua tới ngôi vô địch. Tôi nghĩ mọi người nên nghĩ kĩ hơn trước khi chỉ trích những chiến thắng 1-0. Nó ẩn chứa ba sự thật: một đội bóng đã giành chiến thắng, giữ sạch lưới và chiến đấu đến cùng để bảo vệ thế dẫn bàn…

Mùa giải chưa dừng lại ở đó. Tại Champions League, Milan chạm trán với Monaco của Arsene Wenger tại bán kết. Trận đấu chỉ diễn ra một lượt duy nhất tại San Siro, bởi Monaco kết thúc vòng bảng ở vị trí nhì bảng (Điều này không hề xa lạ gì với Wenger). Mặc dù Costacurta nhận thẻ đỏ ở phút 40, Milan vẫn thắng dễ dàng với tỉ số 3-0.

Trận chung kết được cho là một thử thách vô cùng khó khăn cho Milan khi họ phải đối đầu với Barcelona của Johan Cruyff, đội bóng mới giành chức vô địch quốc gia thứ tư liên tiếp. Trong khi Milan “lê lết” tới trận chung kết, Barcelona làm điều tương tự bằng những chiến thắng áp đảo – có lẽ là nhờ vào chiến thuật đầy mao hiểm của Cruyff, cộng với tài năng của Pep Guardiola, Ronald Koeman, Hristo Stoichkov, Michael Laudrup và Romário. Họ ghi tới 91 bàn thắng tại giải quốc nội, và để lọt lưới 42 bàn. Riêng Romário ghi tới 30 bàn, chỉ kém 6 bàn so với hiệu suất của cả đội Milan.

Cánh báo chỉ Tây Ban Nha cũng tìm mọi cách để viết về sự tương phản trong lối chơi của hai đội. Họ mô tả Cruyff và Barca là những thiên thần của bóng đá tấn công lãng mạn, còn Milan của Capello không khác gì những giám hộ của thứ bóng đá catenaccio độc hại. Cruyff cũng tham gia vào những cuộc bàn luận về hai đội, khi nhận định rằng Milan “chẳng có gì đặc biệt”, và nhấn mạnh vào chính sách chuyển nhượng của hai đội: trong khi Barca dùng tiền để chiêu mộ một cây săn bàn thượng thặng là Romário, Milan lại mang về sân San Siro một Desailly. Cruyff còn chụp ảnh cùng với chiếc cúp Champions League trước khi trận đấu diễn ra, như thế Barcelona đã giành được nó.

Không khí tại đại bản doanh của Milan vô cùng trầm lắng trước khi trận chung kết diễn ra tại Athens. Desailly nhớ lại:

Chúng tôi cực kì khó chịu với Cruyff và báo giới, bởi họ hạ thấp hành trình vào chung kết của chúng tôi, nói rằng chúng tôi chẳng có cơ hội nào và Barca sẽ có một chiến thắng dễ dàng. Nhưng chúng tôi biết được sức mạnh của đội bóng, bất chấp việc nó được xây dựng từ hàng thủ. Chúng tôi có sức mạnh đồng đội. Capello thì như phát điên lên với những gì báo chí miêu tả ông ấy và đội bóng – ông ấy truyền sự phẫn nộ sang cho cả chúng tôi nữa.

Khó khăn chồng chất khó khăn khi mà Capello không có hai trung vệ trụ cột Baresi và Costacurta bởi án treo giò. Ông buộc phải kéo Maldini vào đá giữa cùng Filippo Galli, còn Tassotti đá phải và Panucci đá trái. Desailly tiếp tục thi đấu ở giữa sân cùng Albertini, trong khi Boban và Donadoni đá ở hai biên. Song vẫn còn đó bài toán tiền đạo. Bình thường thì Daniele Massaro sẽ nhận được cái gật đầu của Capello, nhưng vẫn còn đó Savićević, một cầu thủ có thừa tài năng nhưng liên tục có những mâu thuẫn với Capello. Mối quan hệ giữa hai người hoàn toàn không thể hàn gắn trước khi trận chung kết diễn ra, tuy vậy Capello không thể phủ nhận Sav “là một tài năng đặc biệt”. Và nhà cầm quân người Ý quyết định điền tên Savićević vào danh sách 11 người đá chính ở đêm Athens năm đó. Trước giờ bóng lăn, Berlusconi khẽ rỉ tai Savićević: “Dejan, cậu là thiên tài của đội bóng này. Đừng phản bội chúng tôi vào đêm nay.”

Milan 4 – Barcelona 0

Savićević thi đấu trận đấu để đời khi kiến tạo cho Massaro ghi bàn mở tỉ số trước khi đích thân nâng tỉ số lên 3-0 với một pha lốp bóng đẹp mắt. Khi Desailly ghi bàn thắng thứ tư cho Milan, trận đấu mới diễn ra chưa tới một giờ. Barca hoàn toàn bị khuất phục, như thể toàn bộ năng lượng và tinh thần chiến đấu của họ bị hút sạch vậy. Cruyff không biết nói gì sau khi trận đấu kết thúc: “Không phải là chúng tôi chơi tệ. Chúng tôi không chơi một chút nào cả”.

Chiến thắng 4-0 ấy là cái kết không thể đẹp hơn cho Milan, đội bóng không bao giờ ghi quá hai bàn ở một trận đấu trong suốt mùa giải 1993/94.

*****

Có tham khảo tài liệu từ Thore Haugstad tại http://twentyminutereads.com/2017/02/08/capellos-masterpiece/

BÌNH LUẬN

TÁC GIẢ
Tùng Trần
57 bài viết
“Blue”
Phát bóng lên ^